CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết liên quan đến kế toán cung cấp dịch vụ tại công ty TNHH kỹ thuật công nghệ TECHCO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chi phí Chi phí: là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông và chủ sở hữu.
(Chế độ kế toán doanh nghiệp, Bộ Tài chính, NXB Tài chính, 2006, trang 317) Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là những chi phí nguyên vật liệu kinh doanh phát sinh liên quan trực tiếp đến dịch vụ. Trong từng hoạt động kinh doanh, chi phí vật liệu trực tiếp không giống nhau. Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền công, tiền lương và phụ cấp lương phải trả cùng các phải trích cho các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tê, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo tỷ lệ với tiền lương phát sinh vào chi phí. Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí còn lại chi ra trong phạm vi bộ phận kinh doanh.
Chi phí bán hàng: là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ (Bộ Tài Chính, Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, NXB Thống kê, 2006, trang 366). Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí hành chính và chi phí quản lý chung của doanh nghiệp (Bộ Tài chính, Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa, NXB Thống kê, 2006, trang 366). Khi tiến hành hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ, điều mà DN luôn quan tâm là các chi phí kinh doanh dịch vụ mà các DN đã chi ra và kết quả kinh doanh thu SVTH: Hà Thị Huyền Thương 5 Lớp: K48D5 Luan van Khóa luận tôt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam được từ những sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành.
Để xác định được kết quả kinh doanh, DN phải tính toán chính xác lượng chi phí bỏ ra để cung ứng dịch vụ đó, hay nói cách khác là xác định giá thành sản phẩm dịch vụ. Giá thành sản phẩm dịch vụ là biểu hiện của những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành. ( Giáo trình Kế toán dịch vụ, PGS.Nguyễn Phú Giang, NXB Tài chính, 2008) Có thể nói giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong quá trình kinh doanh, xác định tính đúng đắn của các giải pháp kinh tế mà DN sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng phục vụ, hạ thấp chi phí, tăng lợi nhuận. Khái niệm doanh thu và doanh thu cung cấp dịch vụ a.
Khái niệm doanh thu Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) quy định: Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu. Theo nội dung của chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” (Ban hành theo quyết định số 149/2001/QT – BTC ngày 31/12/2001), doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ chắc chắn thu được trong tương lai. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (ví dụ như khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không phải là doanh thu.
SVTH: Hà Thị Huyền Thương 6 Lớp: K48D5 Luan van Khóa luận tôt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam Việc xác định đúng đắn các khoản doanh thu được ghi nhận đầy đủ và đúng thời điểm góp phần quan trọng trong việc xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Về thời điểm ghi nhận doanh thu, doanh thu được ghi nhận khi doanh nghiệp có khả năng tương đối chắc chắn sẽ thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và các lợi ích kinh tế đó có thể được tính toán một cách đáng tin cậy (Giáo trình Kế toán tài chính, Đại học Thương mại, NXB Thống Kê, năm 2010, trang 295) Một số khái niệm về doanh thu khác: Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu (Giáo trình “Kế toán tài chính”, NXB Lao động, trang 300) b.
Khái niệm về doanh thu cung cấp dịch vụ Cung cấp dịch vụ: là thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuê hoạt động… Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ các hoạt động, từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) (Học viện Tài chính, Kế toán doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2004, trang 308) Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: là phần còn lại của doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT của doanh nghiệp nộp theo phương pháp trực tiếp) trong kỳ kế toán, là căn cứ tính kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. ( Học viện Tài chính, Kế toán doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2004, trang 302) Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: ( Theo VAS 14) - Chiết khấu thương mại: là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. SVTH: Hà Thị Huyền Thương 7 Lớp: K48D5 Luan van Khóa luận tôt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam - Giảm giá hàng bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kem phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Hàng bán bị trả lại: là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Lý thuyết liên quan đến kế toán cung cấp dịch vụ tại doanh nghiệp a. Các đặc điểm của hoạt động cung cấp dich vụ: - Về chủ thể tham gia vào quan hệ cung ứng dịch vụ có hai chủ thể: bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ. Bê cung ứng dịch vụ bắt buộc là thương nhân, có đăng ký kinh doanh để cung cấp dịch vụ thương mại theo quy định của pháp luật.
Bên sử dụng dịch vụ có thể là thương nhân, có thể không phải là thương nhân, có nhu cầu sử dụng dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ cho thương nhân, đại lý thương mại yêu cầu cả hai bên đều phải là thương nhân; dịch vụ ủy thác mua bán hàng hóa, môi giới thương mại chỉ yêu cầu bên nhận ủy thác, bên môi giới là thương nhân, còn bên ủy thác và bên được môi giới có thể không là thương nhân. - Về đối tượng hướng tới của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ. Đối tượng cụ thể là việc thực hiện công việc theo yêu cầu của bên sử dụng dịch vụ như việc đại diện cho thương nhân, ủy thác mua bán hàng hó, đại lý thương mại,. Bên cung ứng dịch vụ bằng khả năng của mình phải thực hiện công việc mà bên sử dụng dịch vụ yêu cầu, còn bên sử dụng dịch vụ được hưởng những lợi ích từ việc thực hiện dịch vụ.
Do vậy, đối tượng của quan hệ cung ứng dịch vụ khác với đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa; bởi vì quan hệ mua bán hàng hóa hướng tới đối tượng là hàng hóa hữu hình có thể nhìn thấy. Còn quan hệ cung ứng dịch vụ thương mại hướng tới đối tượng hàng hóa vô hình hay thực hiện, không thực hiện công việc nhất định. - Về mục đích của các bên tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ không hoàn toàn giống nhau. Bên sử dụng dịch vụ hướng tới mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình về dịch vụ, được hưởng những lợi ích nhất định từ việc thực hiện dịch vụ của người cung ứng dịch vụ mang lại.
Đối với bên cung ứng dịch vụ, mục tiêu lớn nhất của họ là khoản tiền thù lao hay lợi nhuận phát sinh từ việc thực hiện công việc cụ thể. - Về hình thức của quan hệ cung ứng dịch vụ: Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập dưới hình thức hợp đồng: Hợp đồng cung ứng dịch vụ. Tùy thuộc vào loại hình dịch vụ thương mại được cung ứng mà hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại có thể SVTH: Hà Thị Huyền Thương 8 Lớp: K48D5 Luan van Khóa luận tôt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
Đối với loại hợp đồng cung ứng dịch vụ mà pháp luật quy định phải xác lập bằng văn bản thì phải tuân theo quy định đó. Dù dưới hình thức nào, hợp đồng cung ứng dịch vụ cũng thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên về các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc thực hiện một công việc cụ thể theo yêu cầu. Xuất phát từ tính đặc thù của nhiều quan hệ dịch vụ và để thỏa mãn nhu cầu của rất đông người sử dụng dịch vụ, có trường hợp người cung ứng dịch vụ sử dụng hình thức “hợp đồng theo mẫu” để ký kết hợp đồng với người sử dụng dịch vụ.