Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lí luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản tại CT TNHH May mặc xuất khẩu Vit-Garment Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại CT TNHH May mặc xuất khẩu Vit- Garment 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp sản xuất 2. Khái niệm Chi phí sản xuất Chi phí sx là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí được nhìn nhận theo nhiều góc độ khác nhau. Chi phí kinh doanh là toàn bộ các chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận là chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động tài chính: Chi phí sản xuất kinh doanh:Là biểu hiện bằng tiền các loại vật tư đã tiêu hao, chi phí hao mòn máy móc, thiết bị, tiền lương và các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất bán hàng của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định.Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:Chi phí cho việc sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa dịch vụ,chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Chi phí hoạt động tài chính:Là chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư vốn, huy động vốn và hoạt động tài chính khác của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định.
Như vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tính cho một thời kỳ nhất định. Bản chất của Chi phí sản xuất Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam – VAS 01: Chuẩn mực chung, chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc 7 chủ sở hữu. Trên góc độ của KTTC, chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp và các khoản chi phí khác để đạt được một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định, mục đích cụ thể trong kinh doanh. Chi phí được định lượng và thể hiện dưới dạng một lượng tiền chi ra, khấu hao tài sản cố định, một khoản nợ dịch vụ, nợ thuế, cũng như những khoản phí tổn góp phần làm giảm vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (không bao gồm việc phân chia vốn hoặc hoàn trả vốn cho cổ đông)…Các chi phí này được kế toán ghi nhận trên cơ sở các chứng từ sổ sách kế toán hợp lệ chứng minh việc phát sinh của chúng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài việc nhận thức chi phí như trong KTTC, các nhà quản trị còn cần phải nhận thức chi phí theo góc độ nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh. Do đó, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận, từng trung tâm chi phí cũng như xác định trị giá hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ. Trong KTQT, khi nhận thức chi phí cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chỉ chú trọng vào chứng từ đảm bảo tính pháp lý như trong KTTC. Phân loại Chi phí sản xuất.
+ Kế toán tài chính chủ yếu phân loại chi phí theo khoản mục: * Phân loại theo mục đích, công dụng của chi phí sản xuất (phân loại theo khoản mục phí) Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng mục đích, công dụng được xếp vào cùng loại gọi là khoản mục, Cụ thể: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ các loại chi phí về nguyên liệu vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các công việc lao vụ, dịch vụ (Khoản mục này bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài) 8 - Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các chi phí về tiền lương, tiền công, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và các khoản phải trả khác cho người lao động (lao động trực tiếp sản xuất). - Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí liên quan đến việc phục vụ quản lý sản xuất tại các phân xưởng, tổ đội sản xuất. Bao gồm các khoản sau: + Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm tiền lương, phụ cấp phải trả và các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) và các khoản phải trả khác của nhân viên phân xưởng (nhân viên quản lý, nhân viên thống kê, nhân viên tiếp liệu,. tại các phân xưởng sản xuất) + Chi phí vật liệu: gồm vật liệu sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng, như dùng để sửa chữa tài sản cố định, dùng cho công tác quản lý tại phân xưởng.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Chi phí về các loại công cụ, dụng cụ dùng cho sản xuất chung ở phân xưởng như: khuôn mẫu, dụng cụ cắt lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động. + Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số khấu hao tài sản cố định dùng cho phân xưởng, tổ đội sản xuất (khấu hao máy móc thiết bị, khấu hao nhà xưởng.) + Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng như: chi phí về điện, nước, điện thoại, thuê sửa chữa tài sản cố định,. + Chi phí khác bằng tiền: gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các khoản kể trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng. Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng của chi phí có tác dụng trong việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục; làm căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện định mức, dự toán chi phí sản xuất, kế hoạch giá thành và hạ giá thành sản phẩm.” -+ Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều sử dụng các cách phân loại chi phí sau:0--- * Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí 9 Đây là cách phân loại chi phí mà các chi phí có cùng nội dung bản chất kinh tế thì được xếp chung vào một yếu tố, một nhóm, chúng không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực sản xuất nào, ở đâu và mục đích tác dụng của chi phí đó ra sao trong quá trình sản xuất.
Theo Chế độ kế toán hiện hành thì chi phí theo yếu tố được chia ra làm năm yếu tố sau đây: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị của các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ xuất dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chi phí nhân công: Là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo tiền lương của người lao động. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ phần trích khấu hao của những tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ chi phí đã chi trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí điện, nước, điện thoại… - Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ chi phí khác phát sinh dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài ở các chỉ tiêu trên như: tiếp khách, hội họp,… Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính, phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí cho kỳ sau.
* Phân loại CPSX theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên Báo cáo tài chính (theo mối quan hệ giữa chi phí với từng thời kỳ tính kết quả kinh doanh) Theo cách phân loại chi phí này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. - Chi phí sản phẩm: + Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán. Đối với doanh nghiệp sản xuất chi 10 phí sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. + Khi sản phẩm hàng hoá chưa được bán ra thì chi phí sản phẩm nằm ở chỉ tiêu giá vốn hàng tồn kho trong bảng cân đối kế toán.
Chỉ khi nào sản phẩm, hàng hoá đã được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽ trở thành chi phí “giá vốn hàng bán” trong báo cáo kết quả kinh doanh và được bù đắp bằng doanh thu hoặc thu nhập của số sản phẩm hàng hoá đã bán. Như vậy sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải qua nhiều kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau. * Phân loại CPSX theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí (theo phương pháp quy nạp). Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại: chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặt hàng.), chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí. Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí, chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác. Ví dụ như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp.