lời mở đầu, lời kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Khoá luận tốt nghiệp về đề tài “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh ở Công ty TNHH Đầu Tƣ Dịch Vụ TKD” đƣợc chia thành 4 chƣơng chính dƣới đây: CHƢƠNG 1: Giới thiệu nghiên cứu CHƢƠNG 2: Các nghiên cứu trƣớc và cơ sở lý thuyết CHƢƠNG 3: Thực trạng công tác tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TKD CHƢƠNG 4: Kết luận và hàm ý 4 CHƢƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các nghiên cứu trƣớc Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hội nhập và phát triển. Việc quản trị hiệu quả doanh thu bán hàng và kết quả kinh doanh sẽ góp phần tăng khả năng cạnh tranh, bảo đảm tính ổn định và khả năng đem lại hiệu quả đối với các hoạt động kinh doanh của mỗi DN. Vì vậy, đã có hàng loạt những đề tài về quản lý doanh thu bán hàng và kết quả kinh doanh trong mỗi DN nhƣ sau: Tác giả Lê Thị Nhi (Nhi, 2017), với luận văn “Tổ chức công tác kế toán xác định kết quả hoạt động kinh doanh xăng dầu khu vực Tây Nam Bộ”, đã nghiên cứu tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của ngành dịch vụ xăng dầu.
Trên cơ sở nghiên cứu của bản thân, tác giả đã đƣa ra bức tranh tổng quan về hiện trạng tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của ngành dịch vụ xăng dầu. Luận án cũng đã đề xuất một số biện pháp cải thiện việc tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh của ngành dịch vụ xăng dầu. Do có đối tƣợng nghiên cứu rộng lớn cho nên luận án chủ yếu tiến hành nghiên cứu khái quát những nội dung cơ bản về tổ chức kế toán doanh thu và kết quả kinh doanh của những DN, công ty kinh doanh trong ngành xăng dầu. Đây là một trong các nghiên cứu hết sức cần thiết đối với ngành kinh doanh dịch vụ xăng dầu, nhƣng tác giả không quan tâm đến việc tổ chức bán hàng hoá, tính toán chi phí sản xuất và đánh giá kết quả kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh ở những công ty trên, cụ thể là tại Công ty TKD.
Tác giả Khuất Thu Hƣơng (Hƣơng, 2017), trong luận văn “Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị CP, doanh thu và kết quả kinh doanh trong DN thương mại ở Việt Nam”, nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị CP, doanh thu, kết quả kinh doanh trong DN thƣơng mại ở Việt Nam. Theo tác giả, trong tổ chức kế toán quản trị CP ngày nay, doanh thu và kết quả hoạt động không phải xét riêng tại DN thƣơng mại mà lại căn cứ trên phân tích tình hình tại khu vực công. Hợp tác kế toán để đánh giá kết quả kinh doanh của DN thƣơng mại, tác giả đã kiến nghị giải pháp hoàn chỉnh việc tổ chức kế toán quản trị, doanh thu và kết quả kinh doanh cho DN thƣơng mại tại Việt Nam. Với đề tài trên, tác giả mới chỉ tập trung vào công tác tổ chức kế toán quản trị CP, doanh 5 thu và kết quả kinh doanh tại DN thƣơng mại.
Nhƣ vậy, việc sử dụng những giải pháp hoàn thiện của đề tài không có sức lan truyền và không phù hợp cho việc ghi nhận CP, doanh thu và kết quả sản xuất kinh doanh tại Công ty TNHH Dịch vụ Đầu tƣ TKD. Tác giả Phan Thanh Sơn (Sơn, 2022) thuộc lĩnh vực dịch vụ du lịch và đã nghiên cứu luận án “Hoàn thiện kế toán chi phí, doanh thu và kết quả điều hành tour du lịch tại Công ty TNHH Du lịch Công đoàn Việt Nam”. Trong nghiên cứu này, Phan Thanh Sơn đã làm rõ cơ sở lý luận về hạch toán các khoản chi, doanh thu và kết quả kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động du lịch. Tác giả đã nghiên cứu thực tiễn công tác kế toán chi phí, kế toán doanh thu và xây dựng chiến lƣợc kinh doanh lữ hành tại Hà Nội.
Tác giả cũng đã nêu ra một số đề xuất đối với cả hình thức kế toán trên và dƣới hình thức kế toán chi phí, có xét đến CP, doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh lữ hành ở Hà Nội. Tuy nhiên, với luận văn trên, tác giả chủ yếu trình bày công tác kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty du lịch lữ hành trên quy mô hẹp, có tính đặc trƣng và nhiều yếu tố bất lợi (thành phố Hà Nội). Việc sử dụng kết quả nghiên cứu trên tại các công ty du lịch ở những địa phƣơng khác cả nƣớc cũng nên đƣợc nghiên cứu và chỉnh sửa một cách hợp lý và có hiệu quả. Tác giả Dƣơng Thị Thanh Nga (Nga, 2021) đã tiến hành nghiên cứu về tổ chức kế toán chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh tại các DN thuộc lĩnh vực sản xuất với luận án “Kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Điện tử”.
Thực tiễn tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả sản xuất kinh doanh tại DN liên quan đến sản phẩm điện tử. Tác giả thấy rằng, việc tổ chức hoạt động kế toán, quản lý chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh là một trong các nhân tố đảm bảo cho việc thành công đối với mỗi hoạt động kinh doanh của DN. Trên cơ sở nghiên cứu thực tế, tác giả cũng đã kiến nghị một số biện pháp cải thiện việc tổ chức kế toán chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh tại các công ty thiết bị điện tử và linh kiện. Với đề tài trên, nghiên cứu sinh đã tìm tòi một nội dung khá mới, nhƣng chỉ gói gọn ở việc nghiên cứu khái quát những yếu tố ảnh hƣởng đến việc tổ chức quản lý chi phí, lợi nhuận và kết quả sản xuất kinh doanh của các DN ngành hàng điện tử.
Một số nội dung mới chỉ đƣợc tác giả đề xuất mà chƣa tiến hành nghiên cứu, ứng dụng thực tế ở 6 Công ty TKD. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về chi phí, doanh thu và hiệu quả kinh doanh mới chỉ đƣợc nghiên cứu chủ yếu ở các DN thuộc khối dịch vụ (vận tải, du lịch, thƣơng mại). Có dự án nghiên cứu dành cho các công ty trong lĩnh vực kinh doanh điện tử. Các dự án nghiên cứu đƣợc thực hiện từ cả góc độ kinh tế tài chính và kinh tế quản lý và kết quả nghiên cứu mang tính định hƣớng thực tiễn cao.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ lĩnh vực dịch vụ (dầu khí, du lịch, thƣơng mại) đối với lĩnh vực sản xuất gốm sứ nên không có khả năng áp dụng hoặc áp dụng không phù hợp đối với các DN đầu tƣ dịch vụ, đặc biệt là các ngành liên quan đến giấy và bìa cứng. Rõ ràng, qua những kết quả nghiên cứu đã đăng tải, đã có khá nhiều nghiên cứu trình bày kế toán chi phí sản xuất, kế toán thuế, kế toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN dƣới khía cạnh kế toán tài chính hay kế toán quản trị. Tuy nhiên, nếu xét theo lĩnh vực hoạt động, những nghiên cứu trên phần lớn đƣợc thực hiện trong lĩnh vực dịch vụ (vận chuyển, giao nhận, khách sạn), một vài nghiên cứu đƣợc thực hiện trong lĩnh vực sản xuất ở Việt Nam (chế biến nông sản, may mặc và vật dụng tiêu dùng). Về lĩnh vực nghiệp vụ, những nghiên cứu trên phần lớn trình bày về việc thực hiện nghiệp vụ kế toán.
Ngoài ra, cũng có những nghiên cứu đối với các công ty sản xuất, kinh doanh tuy nhiên các nghiên cứu trên mới chỉ đƣợc thực hiện đối với những lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác. Chƣa có nghiên cứu cụ thể đối với hoạt động kế toán tài chính có đề cập đến giấy phế liệu tại Việt Nam. Ngoài những trƣờng hợp nghiên cứu mà chúng ta đã đề cập kể trên, nghiên cứu đang đƣợc thực hiện ở Công ty TNHH Đầu tƣ Dịch vụ TKD với đề tài hoàn thiện kế toán bán hàng hoá và xác định kết quả kinh doanh thuộc lĩnh vực kế toán tài chính. Trên cơ sở phân tích tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng cần thiết phải nghiên cứu nhằm hoàn chỉnh kế toán bán hàng hoá nhằm đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh ở Công ty TKD thuộc lĩnh vực kế toán tài chính.
Kế toán doanh thu bán hàng 2. Khái niệm Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là “số tiền thu đƣợc hoặc sẽ thu đƣợc 7 từ các giao dịch và các nghiệp vụ phát sinh doanh thu nhƣ bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng”. Ở những DN hiện đang áp dụng phƣơng pháp tính thuế GTGT theo phƣơng pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ không chịu thuế GTGT, nhƣng đối với những DN áp dụng phƣơng pháp tính thuế khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá trị thực tế của số lƣợng hàng đã bán và dịch vụ đã đƣợc cung cấp. Các trƣờng hợp giảm trừ doanh thu đƣợc quy định cụ thể: Chiết khấu thƣơng mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế GTGT tính theo phƣơng pháp trực tiếp và thuế nhập khẩu.
Các khoản giảm trừ doanh thu là căn cứ để xác định doanh thu tài chính và hiệu quả hoạt động cuối kì kế toán. Các khoản doanh thu cần phải ghi chép cụ thể riêng biệt trên các chứng từ kế toán thích hợp để thu thập số liệu kế toán phục vụ cho báo cáo tài chính. Điều kiện ghi nhận doanh thu Doanh thu bán hàng đƣợc ghi nhận khi đồng thời đáp ứng đủ năm điều kiện sau: (a) Về cơ bản, đơn vị đã chuyển giao toàn bộ rủi ro và lợi ích về quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho ngƣời mua; b) Công ty không còn quyền quản lý hàng hóa với tƣ cách là chủ sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; (c) Doanh thu đƣợc xác định một cách đáng tin cậy; (d) công ty đã nhận đƣợc hoặc sẽ nhận đƣợc lợi ích kinh tế từ giao dịch mua bán; (e) Có thể xác định đƣợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Trƣờng hợp các quy định về điều kiện bán hàng đƣợc xác định tƣơng đối chắc chắn nhƣ sau (theo Thông tƣ 200/2014/TT-BTC): - Trƣờng hợp nếu ngƣời mua có quyền trả sản phẩm, hàng hoá đã mua, tuỳ điều kiện cụ thể, công ty có thể tiếp tục ghi nhận doanh thu nếu những điều kiện cụ thể trên không hề thay đổi và bên mua không có quyền hoàn trả lại sản phẩm, hàng hoá.