CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.1 Cơ sở lý luận của kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại 1.1 Các khái niệm Theo Thông tư 133/2016/ TT- BTC: “Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua”. Khái niệm doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu Mọi doanh nghiệp thương mại bán hàng đều mong muốn đạt được mục tiêu lợi nhuận cao, bởi vậy mà doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu có tác động khá là lớn lợi nhuận, phản ánh trực tiếp đến hiệu suất bán hàng. Doanh thu: Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được, hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận ban đầu do các nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng đã bán cho khách hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại (do không đảm bảo điều kiện về quy cách, phẩm chất ghi trong hợp đồng kinh tế), và doanh nghiệp phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong một kỳ kế toán. Các khoản giảm trừ doanh thu Giảm giá hàng bán: Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Nguyễn Thị Nhinh 4 SVTH: Vũ Thị Chi Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán Chiết khấu thương mại: Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Trường hợp mua hàng nhiều lần mới đạt đến lượng hàng được hưởng chiết khấu thương mại thì khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm trừ vào giá bán trên hóa đơn lần cuối cùng.
Hàng bán bị trả lại: Hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Chiết khấu thanh toán: Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn hợp đồng. Giá vốn hàng bán Trong quá trình sản xuất kinh doanh, muốn đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp thì phải quản lý chặt chẽ vốn kinh doanh, sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn của doanh nghiệp. Muốn vậy doanh nghiệp phải xác định được một cách chính xác nhất các khoản chi phí chi ra.
Giá vốn hàng bán là một trong những khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Muốn quản lý chặt chẽ và xác định đúng giá vốn thì trước hết doanh nghiệp phải nắm vững được sự hình thành của giá vốn. Theo Giáo trình “Kế toán tài chính” trường Đại học Thương mại xuất bản năm 2010: “Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế xuất kho của thành phẩm, hàng hóa được xác định là tiêu thụ trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Giá vốn hàng bán bao gồm: - Trị giá của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ.
- Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. - Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồn kho sau khi trừ đi phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra.2 Đặc điểm của nghiệp vụ bán hàng: 1.1 Các phương thức bán hàng Phương thức bán buôn hàng hóa Đặc điểm của hàng hoá bán buôn là hàng hoá vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá GVHD: ThS. Nguyễn Thị Nhinh 5 SVTH: Vũ Thị Chi Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán chưa được thực hiện. Hàng bán buôn thường được bán theo lô hàng hoặc bán với số lượng lớn.
Giá bán biến động tùy thuộc vào số lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Phương thức bán lẻ hàng hóa Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Đặc điểm của bán hàng theo phương thức này là hàng hoá đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thưc hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định.
Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức: Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Cuối ngày nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Hình thức bán hàng tự phục vụ (tự chọn): Khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến quầy thanh toán và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng.
Hình thức này được áp dụng phổ biến tại các siêu thị. Phương thức gửi hàng đại lý bán hay ký gửi hàng hóa Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hóa là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý, số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý.2 Phương thức thanh toán Sau khi giao hàng cho bên mua và nhận được chấp nhận thanh toán, bên bán có thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ vào sự thoả thuận giữa 2 bên mà lựa chọn các phương thức thanh toán cho phù hợp. Có 3 phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán trực tiếp.
Sau khi nhận được hàng mua, doanh nghiệp thương mại thanh toán ngay tiền cho người bán, có thể bằng tiền mặt, bằng tiền cán bộ tạm ứng, bằng chuyển khoản, có thể thanh toán bù trừ công nợ. Nguyễn Thị Nhinh 6 SVTH: Vũ Thị Chi Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán Phương thức thanh toán trả chậm. Doanh nghiệp đã nhận hàng nhưng chưa thanh toán tiền cho người bán. Việc thanh toán chậm trả có thể thực hiện theo điều kiện tín dụng ưu đãi theo thỏa thuận.
Theo phương thức thanh toán này thì sự vận động của hàng hoá, sự vận động của tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian. Phương thức thanh toán trả trước. Là phương thức thanh toán mà người mua hàng thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp trước khi nhận hàng. Mục đích của việc thanh toán trước là để chắc chắn việc thực hiện hợp đồng mua hàng hóa của khách hàng.3 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ kế toán bán hàng 1.1 Yêu cầu quản lý kế toán bán hàng Trong hoạt động bán hàng, vấn đề quản lý được đặt ra với bộ phận kế toán bán hàng là rất cần thiết.
Kế toán bán hàng cần hạch toán chi tiết tình hình biến động của từng mặt hàng tiêu thụ, cần quản lý từng khách hàng về số lượng mua như thanh toán công nợ. Do bán hàng là quá trình chuyển hoá tài sản của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, cho nên quản lý nghiệp vụ bán hàng phải quản lý cả hai mặt tiền và hàng.2 Nhiệm vụ kế toán bán hàng Ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tính hình bán hàng của doanh nghiệp trong kỳ, cả về giá trị và số lượng hàng bán trên tổng số và trên từng mặt hàng, từng địa điểm bán hàng, từng phương thức bán hàng. Tính toán và phản ánh chính xác tổng giá thanh toán của hàng bán ra, bao gồm cả doanh thu bán hàng, thuế giá trị gia tăng đầu ra của từng nhóm mặt hàng, từng hoá đơn, từng khách hàng, từng đơn vị trực thuộc (theo các cửa hàng, quầy hàng.2 Nội dung nghiên cứu kế toán bán hàng trong doanh nghiệp 1.1 Các quy định của chuẩn mực kế toán ảnh hưởng đến kế toán bán hàng 1.1 Kế toán bán hàng theo Chuẩn mực kế toán số 01 “chuẩn mực chung” Chuẩn mực được ban hành và công bố theo Thông tư 133/2016/ TT-BTC ngày 26/08/2016 GVHD: ThS. Nguyễn Thị Nhinh 7 SVTH: Vũ Thị Chi Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán Phản ánh các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố của BCTC.
Doanh nghiệp cần tôn trọng quy định sau khi kế toán bán hàng: - Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của Doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. - Nguyên tắc giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.