CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ 1. Đặc điểm nhận thức các biểu tượng về kích thước của trẻ Mẫu Giáo. Sự nhận biết về kích thước của mỗi vật thể ở trẻ là nhờ vào cảm giác mà chủ yếu là thị giác. Ngoài ra trẻ còn dùng tay để sờ mó các vật thể sau đó dùng lời nói để khái quát những nhận biết về kích thước vật thể.
Ngay khi còn nhỏ, trẻ đã được tiếp xúc với nhiều đồ vật, đồ chơi có kích thước khác nhau. Trong quá trình thao tác với đồ vật, đồ chơi ở trẻ đã hình thành và tích lũy những kinh nghiệm tri giác, đánh giá kích thước của vật thể. Có thể nói là ngay từ lứa tuổi nhà trẻ, trẻ đã tích lũy được những kinh nghiệm để đánh giá kích thước vật thể. Trong tâm lí học gọi khả năng nhận biết (cảm thụ) kích thước vật ở các vị trí khác nhau là hệ số thụ cảm.
Sự cảm thụ kích thước dúng phụ thuộc vào kinh nghiệm, khả năng ước lượng bằng mắt, sự phát triển về ngôn ngữ, sự tham gia của các quá trình tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp và sự tác động của các nhà giáo dục. Vì vậy hàm số thụ cảm về kích thước vật tăng theo kinh nghiệm, sự phát triển về tâm sinh lí từng lứa tuổi và sự hướng dẫn của các nhà giáo dục. Trẻ ở các lứa tuổi khác nhau thì khả năng nhận biết về kích thước của vật cũng khác nhau. Ví dụ:Quả bóng đỏ to, quả bóng xanh nhỏ.
Cái thước vàng ngắn, cái thước hồng dài. Những biểu tượng đầu tiên bắt đầu được hình thành và phản ánh trong ngôn ngữ của trẻ. Lớp mẫu giáo bé.Trẻ dưới 3 tuổi Khi trẻ lên một tuổi, sự tri giác kích thước của trẻ dần dần mang tính ổn định. Trẻ càng lớn thì sự ổn định về tri giác kích thước càng trở nên bền vững.
Ví dụ: Cái cốc được đặt ở đâu và dù ở btuw thế nào thì trẻ vẫn nhận ra được đó là cái cốc. Trẻ 2 tuổi tuy chưa nắm được ngôn ngữ tích cực, đã có thể hình thành ở trẻ những phản xạ không chủ đích trước sự khác nhau về kích thước của các vật thể 3 mà cả trước các mối quan hệ về kích thước giữa các khách thể. Tuy nhiên trong một thời gian dài những biểu tượng về kích thước vật thể ở trẻ nhỏ còn mang tính tuyệt đối. Dấu hiệu kích thước vật thể được trẻ lĩnh hội gắn liền với những vật cụ thể.
Đó là một dấu hiệu mang tính tuyệt đối và trẻ rất khó khăn khi hiểu tính tương đối của khái niệm kích thước. Ví dụ: Trẻ thường coi quả bóng hay củ cà rốt mình đã chọn dược đánh giá trong đồ chơi là to hơn của các bạn, hay con chó nhà mình là to nhất (tức là to hơn con chó nhà các bạn khác). Điều đó chứng tỏ trẻ chưa hiểu được tính tương đối khi so sánh kích thước các đối tượng.Trẻ 3-4 tuổi Trẻ có thể nhận biết về một chiều kích thước của vật và trẻ có thẻ làm đúng theo yêu cầu của người lớn. Ví dụ: Trẻ có thể nhận biết đúng một người là người lớn hay trẻ con hoặc biết đem đến một quả bóng to, một cái thước dài đến cho cô.
Trong ngôn ngữ thụ động ở trẻ đã bắt đầu có những từ và khái niệm về các kích thước khac nhau của vật. Song vốn từ của trẻ còn ít và trẻ cũng chưa hiểu được ý nghĩa của danh từ “ kích thước”, chưa nắm được biểu tượng của từng lọa kích thước nên chúng thường trả lời không chính xác về kích thước của vật. Ví dụ: Trẻ thường nói: “ cây to” thay cho “ cây cao”, nói “ bút chì to” thay cho “ bút chì dài”.Ở lứa tuổi này do khả năng ước lượng bằng mắt còn kém, động tác tay chưa thành thạo, vốn ngôn ngữ còn nghèo nàn nên trẻ chỉ có khả năng phân biệt kích thước của hai vật cóa độ chênh lệch lớn bằng thị giác, chưa có khả năng so sánh. Vì vậy cô giáo: - Cần tạo điều kiện cho trẻ dưới 3 tuổi được tiếp xúc làm quen với các đồ vật có kích thước khác nhau.
- Cần dạy cho trẻ 3-4 tuổi biết phân biệt kích thước( dài, rộng, cao ) của 2 vật có độ chênh lệch lớn bằng cách đặt cạnh nhau. Dạy trẻ biết sử dụng đúng các từ chỉ mối quan hệ kích thước giữa 2 vật. Mẫu giáo nhỡ ( trẻ 3-4 tuổi) Ngay từ khi còn nhỏ các cháu đã tiếp xúc trực tiếp các đồ chơi và các vật có kích thước khác nhau. Định hướng của các cháu về kích thước các vật được xác định chủ yếu do ước lượng bằng mắt kết hợp với kinh nghiệm, sự cảm thụ của lời nói, sự tham gia của các thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp.
Đến 4-5 tuổi trẻ đã có khả năng phân biệt được kích thước theo hai chiều của vật khi hai chiều của vật có sự khác nhau rõ nét về kích thước. Các hành động khảo sát bằng tay kết hợp với sự phát triển về ngôn ngữ đã giúp các cháu cảm nhận đúng hơn từng biểu tượng kích thước cụ thể của đối tượng. Trẻ đã có thể nắm được ý nghĩa của danh từ “ kích thước” nên việc diễn đạt các từ chỉ kích thước của vật được chính xác hơn. Ví dụ: Khi so sánh chiều cao của 2 cái hộp nếu trẻ 3-4 tuổi thường sử dụng từ “ to- nhỏ” thì trẻ 4-5 tuổi đã biết sử dụng từ “ cao – thấp”.
Do thị lực phát triển hơn và động tác tay thành thạo hơn, trẻ 4-5 tuổi có khả năng phân biệt được kích thước của 2-3 vật có độ chênh lệch nhỏ bằng khả năng so sánh. Khả năng so sánh, ước lượng bằng mắt về từng biểu tượng kích thước cụ thể tăng lên. Vì vậy cô giáo cần: - Tiếp tục dạy cho trẻ 4-5 tuổi biết so sánh phân biệt kích thước của 2-3 vật theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn với độ chênh lệch nhỏ. Dạy trẻ biết sử dụng đúng các từ chỉ mối quan hệ kích thước giữa ba vật theo chiều tăng hay giảm dần về kích thước.
- Phát triển khả năng so sánh ước lượng bằng mắt kích thước của vật này so với vật khác.Mẫu giáo lớn ( Trẻ 5-6 tuổi) Trẻ có khả năng biệt ba chiều kích thước ( chiều dài, chiều rộng, chiều cao hay bề dày) của vật. Trẻ đã biết chỉ tay theo chiều dài, chiều rộng hay chiều cao của các đồ vật. Đối với các hình khối có chiều cao thấp trẻ 4-5 tuổi cho rằng không có chiều cao “ thì trẻ 5-6 đã hiểu dó là bề dày của đồ vật và trẻ đã có thêm biểu tượng dày- mỏng”. Chẳng hạn: quyển sách này dày hơn quyển sách kia.
5 Trẻ có khả năng dùng thước đo để đánh giá kích thước của vật. Tuy nhiên phương tiện đo không chính xác chỉ là “ que tính”, “ băng giấy”. nên các cháu chưa phân biệt được công cụ đo với đơn vị đo mà con người sử dụng. Ví dụ: Trẻ hiểu thước là một thước gỗ, thước dây, nhờ đó người ta đo dược vải trong cửa hàng, trẻ không nhận biết được thước là một đơn vị đo lường.Trẻ hiểu được mới quan hệ phụ thuộc giữa “ độ lớn” của thước đo với số đo kích thước của vật càng nhỏ thì số đo kích thước vật càng lớn.
Tóm lại:Ở lứa tuổi mẫu giáo bé và nhỡ các cháu xác định kích thước của các vật bằng cách so sánh trực tiếp chúng với nhau nhờ biện pháp xếp kề và xếp chồng. Ở lớp lớn dạy đánh giá kích thước của vật bằng cách đo lường nhờ các dụng cụ đo đơn giản. Nội dung chương trình hình thành các biểu tượng toán về kích thước cho trẻ Mẫu Giáo 2. Trẻ dưới 3 tuổi - Trẻ lứa tuổi nhà trẻ được thao tác với các vật có kích thước to – nhỏ khác nhau.
- Trẻ 2-3 tuổi bắt đầu được làm quen và nhận biết được sự khác nhau về kích thước, gọi tên kích thước to – nhỏ, dài – ngắn, cao – thấp của các vật. - Nhận biết sự khác biệt về trọng lượng: nặng nhẹ các vật. Trẻ 3-4 tuổi Trẻ em lứa tuổi mẫu giáo rất chú ý tới sự khác biệt về kích thước của các vật và có hứng thú so sánh kích thước của chúng. Tuy nhiên sự tri giác kích thước của trẻ lứa tuổi này còn thiếu sự phân tích các chiều đo kích thước khác nhau, vì vậy trẻ thường chỉ chú ý đến độ lớn chung của vật.
Trẻ nhỏe chưa nắm được các từ đểphản ánh các chiều đo kích thước của các vật , vì vậy nội dung dạy trẻ lứa tuổi này cần hướng vào việc dạy trẻ phân biệt, nhận biết và nắm được tên gọi của từng chiều đo kích thước khác nhau như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn của vật. Trong quá trình thao tác với các đồ vật , đồ chơi có kích thước khác nhau, trẻ mẫu giáo bé đã bước đầu nhận biết sự khác biệt về kích thước của vật, trẻ học cách diễn đạt các mối quan hệ kích thước đó bằng các từ to, nhỏ. Để phát triển sự tri giác kích thước các vật, phát triển hứng thú so sánh kích thước của trẻ cần hướng tới sự 6 so sánh độ lớn và chiều đo kích thước của hai vật và dạy trẻ phản ánh kết quả so sánh bằng lời nói như: dài hơn – ngắn hơn, cao hơn – thấp hơn, rộng hơn - hẹp hơn, to hơn – nhỏ hơn. Tóm lại để hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ 3-4 tuổi cần dạy trẻ: - Phát triển sự tri giác kích thước các vật và làm phong phú và hoàn thiện hơn kinh nghiệm cảm nhận kích thước của trẻ nhỏ.
- Dạy trẻ phân biệt, nhận biết và nắm được tên gọi từng chiều đo kích thước như: độ lớn, chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn của vật. - Dạy trẻ biết sự khác biệt rõ nét về độ lớn, về chiều dài, chiều rộng và chiều cao của hai đối tượng. - Dạy tẻ phản ánh bằng lời nói mối quan hệ kích thước giữa hai vật và sử dụng đúng các từ để diễn đạt sự khác biệt về kích thước như: to hơn – nhỏ hơn, dài hơn – ngắn hơn, cao hơn thấp hơn, rộng hơn – hẹp hơn. Trẻ 4-5 tuổi Trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi đã có khả năng phân biệt được các chiều đo kích thước cảu các vật như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao nếu những chiều đo đó là nổi bật.
Trẻ đã nắm được các từ diễn đạt các chiều đo kích thước khác nhau, trẻ không chỉ thường xuyên sử sụng chúng mà còn sử dụng một cách chính xác hơn.