đặt vấn đề, giảng giải khái niệm), kết thúc tiết dạy bằng cách cho trẻ nhắc lại những khái niệm đã học ( củng cố bài). Những chức năng tâm lý diễn ra trong " tiết học " giống như tiết học ở lớp một, học sinh phải chú ý nghe cô hướng dẫn, giảng giải, phải sử dụng các hình thức nhớ, các thao tác tư duy diễn ra theo yêu cầu của tiết học. Ý thức được huy động đến mức tối đa để hiểu bài. Quan hệ bạn bè trong khi " Học mà chơi " cũng được thiết lập gần như quan hệ bạn bè ở lớp một, quan hệ cô và trẻ cũng tương tự như cô giáo và học sinh ở lớp một nghĩa là cô có thể đứng "giảng bài" nhưng cũng có thể ngồi cùng trẻ để giải thích, phân tích chứng minh.
Ngôn ngữ của cô vừa mạch lạc, rõ ràng vừa diễn cảm, đặc biệt ở môn truyện, thơ. lại kèm cả tranh, ảnh. Các "tiết" học âm nhạc, nghệ thuật tạo hình. đã khơi dậy hứng thú học tập thật sự đối với trẻ.
Tóm lại: Trẻ tập làm quen với các tiết học để lĩnh hội những tri thức đơn giản gần gũi đối với trẻ, nhưng là tiền đề để trẻ vào lớp một. Trẻ dần dần nhận thức được nhiệm vụ học tập, bổn phận, trách nhiệm của học sinh phải làm gì cho cô giáo vui lòng, bạn bè yêu mến. Một số nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non 1. Đạo đức 9 * Đạo đức là gì? - Dưới góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt đƣợc phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu chuẩn mực điều chỉnh (chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội, đạo đức phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp sự tồn tại xã hội, do đó đạo đức biến đổi theo sự biến đổi của tồn tại xã hội.
Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Nếu pháp luật điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước thì đạo đức điều chỉnh hành vi của con người bằng sức mạnh của dư luận xã hội. - Dưới góc độ cá nhân: Đạo đức chính là phẩm chất, nhân cách của con người phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi thói quen và cách ứng xử của họ trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội; giữa bản thân họ với người khác, với chính bản thân mình. * Nguồn gốc, chức năng của đạo đức - Nguồn gốc của đạo đức Đạo đức là một hiện tượng xã hội, xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên khi loài người mới hình thành.
Theo quan điểm triết học Mác-Lênin: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội , phát triển cùng với sự biến đổi của tồn tại xã hội, các điều kiện sinh hoạt vật chất , hoàn cảnh lịch sử - xã hội khác nhau. Nhưng đạo đức khác với các hình thức xã hội khác ở chỗ đạo đức điều chỉnh hoạt động của con người trong các mối quan hệ xã hội, giúp con người tự hoàn thiện nhân cách của mình. Đạo đức là một phạm trù lịch sử, khi điều kiện kinh tế xã hội sinh ra nó thay đổi thì tất yếu các quan hệ xã hội và quan hệ đạo đức cũng thay đổi theo. Đạo đức cá nhân được hình thành và phát triển trong quá trình con người hoạt động, giao lưu, giao tiếp với những người xung quanh.
Đạo đức đƣợc biểu hiện ra bên ngoài ở tri thức, hiểu biết của cá nhân về các yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức và thói quen đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa con người với con ngƣời, giữa con người với môi trường xung quanh trong cuộc sống hàng ngày. 10 - Chức năng của đạo đức Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội. Mặt khác nó cũng tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy đạo đức có chức năng to lớn tác động theo hứng thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển xã hội.
Đạo đức có những chức năng sau: + Đạo đức có chức năng giáo dục. + Đạo đức có chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ điều chỉnh mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. + Đạo đức có chức năng kiểm tra đánh giá. Giáo dục đạo đức 1.
Khái niệm giáo dục - Giáo dục (nghĩa rộng): là qúa trình hoạt động phối hợp tương tác giữa chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, dưới sự chỉ đạo của chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục tự giác, tích cực, tự lực nắm vững hệ thống những quan điểm, niềm tin thái độ những định hướng giá trị, hình thành những hành vi thói quen phù hợp với chuẩn mực xã hội. - Giáo dục(nghĩa hẹp): là quá trình hoạt động phối hợp tương tác giữa chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục,được tổ chức có mục đích có kế hoạch, dưới sự chỉ đạo của chủ thể giáo dục, đối tượng giáo dục tự giác, tích cực, tự lực hình thành nhân cách cho bản thân. Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.
Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học. 11 Tại Việt Nam, một định nghĩa khác về giáo dục được Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra như sau: Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân. Quyền giáo dục được nhiều chính phủ thừa nhận.
Ở cấp độ toàn cầu, Điều 13 của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966) của Liên Hiệp Quốc công nhận quyền giáo dục của tất cả mọi người. Mặc dù ở hầu hết các nước, giáo dục có tính chất bắt buộc cho đến một độ tuổi nhất định, việc đến trường thường không bắt buộc; một số ít các bậc cha mẹ chọn cho con cái học ở nhà, học trực tuyến, hay những hình thức tương tự. Giáo dục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Giáo dục là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sống xã hội của loài người.
Giáo dục được hiểu dưới 2 góc độ: (1) Giáo dục được xem như là tập hợp các tác động sư phạm đến người học với tư cách là một đối tượng đơn nhất. (2) Giáo dục được ví như là một loại hoạt động xã hội, dạng tái sản xuất ra lực lượng lao động mới. Ở đây, đối tượng là thế hệ trẻ, là tập hợp các đối tượng đơn nhất. Giáo dục là đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ lao động.
Khái niệm giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục nhân cách con người mới. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, được diễn ra ngay từ khi còn thơ bé cho đến khi trưởng thành, thậm chí suốt cuộc đời. Đối với trẻ thơ, giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết sơ đẳng về những yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các mối quan hệ ứng xử, rèn cho trẻ có tình cảm, hành 12 vi và thói quen đúng đắn trong các mối quan hệ ứng xử hằng ngày. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách của con người Việt Nam.
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức từ nhiều phía với những hình thức khác nhau nhằm hình thành cho con người những hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội. Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục nhân cách con người mới. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài được diễn ra ngay từ khi còn thơ bé cho đến khi trưởng thành, thậm chí suốt cuộc đời. Đối với trẻ thơ, giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho trẻ những hiểu biết sơ đẳng về những yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức trong các mối quan hệ ứng xử hàng ngày.
Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức , những nét tính cách của con người Việt Nam mới. - Đặc điểm của quá trình giáo dục đạo đức: + Có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình dạy học trên trường, lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ ở trường lớp. + Có sự định hướng thống nhất các yêu cầu, mục đích giáo dục giữa các tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường. + Tính biện chứng, phức tạp trong quá trình phát triển, biến đổi về nhân cách của trẻ.
+Tính lâu dài của quá trình hình thành, phát triển các phẩm chất đạo đức. + Tính đột biến và khả năng tự biến đổi. + Phát triển thông qua các hoạt động giao lưu tập thể. + Tính cá thể hóa cao dưới nhiều mâu thuẫn.
+ Có sự tương tác lâu dài giữa nhà trường và đối tượng giáo dục, tính chất khó khăn trong việc đánh giá kết quả của sự phát triển đạo đức cá nhân.