Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Giáo dục Mầm non của tác giả Quách Thị Hằng (Khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Hồng Đức, niên khóa 2016–2020) tiếp cận vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ 5–6 tuổi từ góc độ khai thác văn học dân gian, cụ thể là thể loại truyện cổ tích. Trong hệ thống văn học dân gian, truyện cổ tích được mệnh danh là "truyện kể trong nhà và cho trẻ nhỏ", là loại hình nghệ thuật ngôn từ phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa văn học dân gian với quá trình giáo dục trẻ em. Văn bản luận giải rằng đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện của con người; việc hình thành đạo đức không phải là thuộc tính bẩm sinh mà là kết quả của quá trình giáo dục có chủ đích, thể hiện qua quan niệm dân gian "hiền dữ đâu phải tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên". Trẻ em lớn lên cùng những câu chuyện thần tiên mang giá trị nhân ái, do đó việc cho trẻ làm quen với truyện cổ tích là một phương tiện sư phạm thiết yếu nhằm bồi dưỡng các giá trị đạo đức tốt đẹp.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định nhằm:

  1. Góp một cái nhìn thú vị và toàn diện về thể loại truyện cổ tích trong giáo dục mầm non.
  2. Giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về các giá trị nhân văn của truyện cổ tích, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức và phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm hai nhiệm vụ cụ thể được đánh số trong văn bản:

  1. Tìm hiểu một số vấn đề chung về truyện cổ tích và giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non.
  2. Chỉ ra các biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ 5–6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích.

Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là các biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non 5–6 tuổi; phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động kể chuyện cổ tích trong trường mầm non. Khảo sát thực tiễn được giới hạn không gian tại Trường Mầm non Cẩm Giang trên nhóm khách thể gồm 72 trẻ mẫu giáo 5–6 tuổi, thời gian điều tra thực địa diễn ra vào tiết 2 và tiết 3 sáng ngày 07/02/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của công trình được xây dựng dựa trên các quan điểm triết học, giáo dục học và pháp lý về đạo đức và giáo dục:

  • Quan điểm triết học Mác – Lênin về đạo đức: Đạo đức được định hình là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng các nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người; đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng nhưng có tác động tích cực trở lại đối với sự phát triển xã hội qua ba chức năng: giáo dục, điều chỉnh hành vi và kiểm tra đánh giá.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Tác giả trích dẫn lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Bây giờ phải học, học để yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức" và luận điểm "Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm gì cũng khó" để khẳng định tính cấp thiết của giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
  • Quan niệm giáo dục và pháp lý: Văn bản dẫn chiếu định nghĩa giáo dục của Giáo sư Hồ Ngọc Đại và Điều 13 Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966) của Liên Hiệp Quốc công nhận quyền giáo dục của con người.
  • Lý luận giáo dục học mầm non: Trích dẫn luận điểm của nhà giáo dục học V. A. Xu-khôm-lin-xki: "Truyện cổ tích là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, là ngọn gió tươi mát thổi bùng lên ngọn lửa tư duy và ngôn ngữ của trẻ".
  • Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Khóa luận khảo lược các công trình quốc tế như nghiên cứu của M. K. Bogoliup Xkaia và V. V. Septsenk (Liên Xô, 1967) về đọc và kể chuyện ở vườn trẻ; công trình của Hans Joachim, Horst, Cholothauer (Cộng hòa Dân chủ Đức, 1976); nghiên cứu của Stanislawa Fryciego và I. Zabeli – Lewanskie (Ba Lan). Ở trong nước, tác giả kế thừa các nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (1986), Phạm Thị Việt – Lê Ánh Tuyết – Cao Đức Tiến, cùng các tuyển tập sưu tầm truyện cổ tích của Thái Đắc Xuân, Ngọc Ánh.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm ba nhóm chính:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, phân tích và hệ thống hóa tài liệu về đạo đức học, tâm lý học lứa tuổi, giáo dục học mầm non và thi pháp truyện cổ tích.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Dự giờ, quan sát trực tiếp các giờ kể chuyện cổ tích; khảo sát thực trạng tổ chức dạy học; sử dụng phiếu bảng hỏi và phỏng vấn giáo viên mầm non.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án thực nghiệm, tổ chức dạy thực nghiệm các biện pháp đề xuất và lấy ý kiến đánh giá của giáo viên mầm non về chất lượng giáo án.
  • Các thủ pháp hỗ trợ: Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học (thống kê đơn vị từ, câu, tần số và tỉ lệ); so sánh đối chiếu; phân tích quy nạp và diễn dịch; mô hình hóa dữ liệu qua bảng biểu.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản lý luận, chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam và thế giới, cùng số liệu khảo sát thực tế thu thập từ 72 trẻ và đội ngũ giáo viên tại Trường Mầm non Cẩm Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết chung về giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở tâm lý học và giáo dục học về giáo dục đạo đức ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là giai đoạn 5–6 tuổi:

  • Đặc điểm tâm lý trẻ 5–6 tuổi: Cơ thể trẻ đang phát triển chưa ổn định. Nhận thức mang tính tổng quát, đi từ cụ thể đến trừu tượng, trong đó nhận thức không chủ định chiếm ưu thế. Tình cảm phát triển mạnh mẽ và chi phối trực tiếp hành động; trẻ chưa có khả năng kiềm chế cảm xúc cao. Trẻ bắt đầu có ý thức về bản ngã (cái tôi cá nhân), phân biệt giới tính và tích lũy các tiền đề chín muồi để chuẩn bị chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập ở trường tiểu học theo phương thức "Học mà chơi, chơi mà học".
  • Bản chất và đặc điểm giáo dục đạo đức: Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị hiểu biết sơ đẳng về chuẩn mực hành vi, rèn luyện tình cảm và thói quen ứng xử. Quá trình này có 8 đặc điểm: gắn kết chặt chẽ với dạy học; thống nhất yêu cầu giữa các lực lượng giáo dục; tính biện chứng và phức tạp; tính lâu dài; tính đột biến và tự biến đổi; phát triển qua giao lưu tập thể; tính cá thể hóa cao; và tính chất khó khăn trong đánh giá kết quả phát triển đạo đức cá nhân.
  • Nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức ở các độ tuổi mầm non:
Tiêu chí Lứa tuổi Nhà trẻ (0–3 tuổi) Lứa tuổi Mẫu giáo (đặc biệt 5–6 tuổi)
Nhiệm vụ trọng tâm Phát triển xúc cảm lành mạnh; tập tính tự lập, chào hỏi; rèn thói quen vệ sinh, tự phục vụ đơn giản. Hình thành tình cảm đạo đức (lòng nhân ái); rèn thói quen hành vi văn minh; xây dựng biểu tượng chuẩn mực và động cơ đạo đức.
Nội dung giáo dục Yêu thương người thân; nghe lời người lớn; không tranh giành đồ chơi; tự xúc cơm, cất đồ chơi đúng nơi quy định. Giáo dục lòng nhân ái, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước, Bác Hồ; giáo dục quan hệ bạn bè; thói quen văn minh nơi công cộng; tính tự lập, mạnh dạn, kỉ luật.
  • Hệ thống phương pháp giáo dục đạo đức: Khóa luận nêu rõ 7 phương pháp sư phạm: (1) Phương pháp dùng tình cảm; (2) Phương pháp dùng nghệ thuật; (3) Phương pháp dùng trò chơi; (4) Phương pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt; (5) Phương pháp nêu gương, giải thích; (6) Phương pháp khen, chê đúng lúc, đúng mực; (7) Phương pháp thống nhất tác động giáo dục giữa nhà trường và gia đình.
  • Vai trò của truyện cổ tích đối với trẻ mẫu giáo: Truyện cổ tích phản ánh hiện thực qua lăng kính đạo đức với cảm hứng trung tâm là cuộc đấu tranh giữa cái Thiện và cái Ác. Nhân vật chính diện luôn trung thực, vị tha (như cô Tấm, người nông dân cứu con chó con mèo). Truyện cổ tích thỏa mãn nhu cầu tâm lý bản năng của trẻ về sự huyền diệu, kì ảo; các câu chuyện như Sự tích cây vú sữa hay Bông hoa cúc trắng mang tính giáo dục sâu sắc về tình mẫu tử và lòng hiếu thảo.

Chương 2: Thực trạng của hoạt động giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích

Chương 2 phản ánh thực trạng nhận thức của giáo viên, phụ huynh và thực tiễn tổ chức hoạt động kể chuyện cổ tích tại các cơ sở giáo dục mầm non:

  • Thực trạng nhận thức: Giáo viên mầm non đã nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện và lồng ghép giáo dục đạo đức vào giờ học. Phụ huynh mong muốn con ngoan ngoãn, lễ phép và một số đã biết đọc truyện cổ tích để nêu gương cho con; tuy nhiên, vẫn còn nhiều phụ huynh nuông chiều, bao bọc con quá mức, hoặc chưa chú trọng làm gương trong hành vi ứng xử hằng ngày.
  • Thực trạng tổ chức hoạt động tại cơ sở: Khóa luận khảo cứu tình hình tại một số trường công lập và tư thục (Trường Mầm non 20/10 tại Hà Nội; Trường Mầm non Búp Sen Xanh và Mầm non Hoa Mai tại Thanh Hóa). Bên cạnh các điểm sáng, văn bản chỉ rõ tồn tại: một số cơ sở giáo dục còn thờ ơ với truyện cổ tích; phương pháp truyền đạt còn khô cứng; lớp học quá đông khiến trẻ xao nhãng; việc giáo dục đạo đức dừng lại ở bài học lý thuyết mà chưa chuyển hóa thành hành vi thực tế.
  • Thiết kế công cụ khảo sát thực trạng: Tác giả tiến hành điều tra trên 72 trẻ 5–6 tuổi tại Trường Mầm non Cẩm Giang vào ngày 07/02/2020. Bộ công cụ khảo sát được xây dựng chi tiết gồm 16 câu hỏi dành cho giáo viên mầm non, bao quát các khía cạnh:
Nhóm nội dung khảo sát Các câu hỏi cụ thể trong phiếu khảo sát
Thông tin nghề nghiệp & cơ sở Thời gian công tác (Câu 1); Địa bàn trường (Câu 2); Loại hình trường (Câu 3); Trình độ chuyên môn (Câu 4); Chương trình giảng dạy (Câu 5); Nhóm lớp phụ trách (Câu 6).
Nhận thức về phương pháp Quan niệm về trò chơi học tập (Câu 7); Các phương pháp giáo dục đạo đức đã dùng: dùng lời, trò chơi, thực hành, trực quan (Câu 8); Mức độ cần thiết của giáo dục đạo đức (Câu 12).
Thực trạng sử dụng kịch hóa Việc xây dựng trò chơi đóng kịch (Câu 9); Nguyên nhân chưa áp dụng đóng kịch (Câu 10); Mục đích xây dựng trò chơi đóng kịch (Câu 11).
Tần suất, hiệu quả & khó khăn Tần suất kể chuyện cổ tích (Câu 13); Mức độ hứng thú của trẻ (Câu 14); Khó khăn khi lồng ghép: thời gian, cơ sở vật chất, kinh nghiệm (Câu 15); Thang đo tần suất thực hiện các kế hoạch tổ chức giáo dục đạo đức (Câu 16).

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cổ tích

Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng, cấu trúc đề tài xác lập các biện pháp sư phạm trọng tâm nhằm giáo dục đạo đức cho trẻ 5–6 tuổi:

  • Biện pháp đọc, kể diễn cảm: Giáo viên sử dụng ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ và ánh mắt để tái hiện không gian cổ tích; truyền tải cảm xúc của từng tuyến nhân vật (thiện – ác), tạo sự rung động và đồng cảm tự nhiên ở trẻ.
  • Biện pháp cho trẻ đóng vai (trò chơi đóng kịch): Chuyển hóa nội dung câu chuyện thành các hoạt cảnh sân khấu hóa; phân vai cho trẻ thể hiện hành động, lời thoại của nhân vật, giúp trẻ trực tiếp trải nghiệm cảm xúc và rèn luyện hành vi đạo đức thông qua hành động nhập vai.
  • Biện pháp cho trẻ nhận xét nhân vật: Giáo viên thiết kế hệ thống câu hỏi đàm thoại gợi mở, hướng dẫn trẻ tự phân tích, đánh giá hành vi tốt – xấu của nhân vật, từ đó rút ra bài học hành vi cho bản thân trong thực tế sinh hoạt.
  • Nhận xét kết quả qua thể nghiệm: Thực hiện soạn giáo án thể nghiệm, triển khai trên nhóm lớp và lấy ý kiến đánh giá từ các giáo viên mầm non nhằm đối chiếu tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể theo đúng nội dung phản ánh trong văn bản:

  • Làm rõ các đặc điểm tâm sinh lý đặc thù của trẻ 5–6 tuổi trong mối liên hệ với việc tiếp nhận văn học cổ tích; chứng minh truyện cổ tích là phương tiện giáo dục đạo đức phù hợp với tư duy hình tượng của trẻ lứa tuổi này.
  • Phân định rõ ràng nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức giữa hai giai đoạn nhà trẻ và mẫu giáo; hệ thống hóa 7 phương pháp giáo dục đạo đức mầm non.
  • Xây dựng được bộ công cụ điều tra thực trạng gồm bảng hỏi chi tiết 16 câu hỏi và bảng thang đo khảo sát giáo viên mầm non về phương pháp, tần suất, mức độ hứng thú và các rào cản tổ chức giờ kể chuyện cổ tích.
  • Thu thập dữ liệu thực địa trên cỡ mẫu 72 trẻ 5–6 tuổi tại Trường Mầm non Cẩm Giang vào ngày 07/02/2020.
  • Xác lập 3 nhóm biện pháp sư phạm định hướng: đọc kể diễn cảm, tổ chức đóng vai và rèn luyện kỹ năng nhận xét nhân vật.
  • Đóng góp của khóa luận được tác giả tự xác định: Chỉ ra hệ thống các biện pháp giáo dục đạo đức cụ thể cho trẻ mầm non thông qua truyện cổ tích và góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tại các cơ sở mầm non.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Cỡ mẫu khảo sát thực tiễn còn giới hạn trong phạm vi 72 trẻ tại một địa bàn trường cụ thể (Trường Mầm non Cẩm Giang), thời gian khảo sát thực nghiệm tập trung vào buổi sáng ngày 07/02/2020. Khóa luận chủ yếu tập trung vào loại hình truyện cổ tích mà chưa mở rộng sang toàn bộ các thể loại văn học dân gian khác như thần thoại, truyền thuyết hay ca dao, đồng dao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn và quy mô mẫu khảo sát sang nhiều trường mầm non thuộc các vùng địa lý khác nhau (thành thị, nông thôn, miền núi); theo dõi sự biến đổi hành vi đạo đức của trẻ trong thời gian dài hạn; nghiên cứu tích hợp hoạt động kể chuyện cổ tích với các môn học nghệ thuật tạo hình và âm nhạc.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo trực tiếp cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non: Cung cấp khung lý thuyết về tâm lý lứa tuổi 5–6 tuổi, bản chất giáo dục đạo đức và cách tiếp cận truyện cổ tích dưới góc độ giáo dục học mầm non.
  • Giáo viên mầm non đang trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo lớn (5–6 tuổi): Có thể tham khảo bảng hỏi điều tra thực trạng 16 câu và các định hướng sư phạm về kể chuyện diễn cảm, tổ chức trò chơi đóng kịch và phương pháp đàm thoại hướng dẫn trẻ nhận xét nhân vật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực tiễn của khóa luận được thực hiện trên đối tượng nào và vào thời gian nào?
Khảo sát thực tiễn được tiến hành trên 72 trẻ 5–6 tuổi tại Trường Mầm non Cẩm Giang, thời gian thực hiện vào tiết 2 và tiết 3 sáng ngày 07/02/2020 trong giờ hoạt động với truyện cổ tích.

2. Tác giả đã trích dẫn những nghiên cứu quốc tế nào về văn học và truyện cổ tích mầm non?
Khóa luận dẫn chiếu công trình của M. K. Bogoliup Xkaia và V. V. Septsenk (Liên Xô, 1967) về đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ; công trình của tập thể giáo viên Hans Joachim, Horst, Cholothauer (Cộng hòa Dân chủ Đức, 1976); và công trình của Stanislawa Fryciego, I. Zabeli – Lewanskie (Ba Lan) về văn hóa văn học ở trường mẫu giáo.

3. Khóa luận phân tích sự khác nhau cơ bản giữa giáo dục đạo đức ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo như thế nào?
Ở lứa tuổi nhà trẻ (dưới 3 tuổi), giáo dục đạo đức tập trung vào cảm xúc lành mạnh gắn bó với người thân và hình thành kỹ năng tự phục vụ ban đầu. Ở lứa tuổi mẫu giáo (5–6 tuổi), giáo dục đạo đức nâng lên thành giáo dục lòng nhân ái, lòng yêu quê hương đất nước, quan hệ bạn bè bình đẳng và hình thành các biểu tượng chuẩn mực hành vi (tính tự lập, mạnh dạn, kỉ luật).

4. Bảng câu hỏi khảo sát giáo viên trong khóa luận tập trung vào những vấn đề then chốt nào?
Bảng câu hỏi gồm 16 mục, tập trung điều tra về thông tin chuyên môn, nhận thức về trò chơi học tập, các phương pháp giáo dục đạo đức đã dùng, thực trạng và lý do chưa áp dụng trò chơi đóng kịch, mức độ hứng thú của trẻ, các khó khăn gặp phải và tần suất lập kế hoạch tổ chức giáo dục đạo đức.

5. Những biện pháp sư phạm nào được tác giả đề xuất trong cấu trúc của khóa luận?
Tác giả đề xuất 3 biện pháp sư phạm: (1) Biện pháp đọc, kể diễn cảm; (2) Biện pháp cho trẻ đóng vai; (3) Biện pháp cho trẻ nhận xét nhân vật, kết hợp với khâu nhận xét kết quả qua thể nghiệm sư phạm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Quách Thị Hằng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo lớn 5–6 tuổi thông qua thể loại truyện cổ tích. Công trình phản ánh thực trạng nhận thức của giáo viên, phụ huynh cùng bức tranh tổ chức dạy học thực tế, đồng thời xây dựng bộ câu hỏi điều tra 16 mục tại Trường Mầm non Cẩm Giang. Trên cơ sở đó, đề tài xác lập các biện pháp sư phạm như kể chuyện diễn cảm, đóng kịch và đàm thoại nhận xét nhân vật nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non.