Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ KÊ BIÊN NHÀ Ở THEO PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, những nội dung cơ bản về kê biên nhà ở 1. Khái niệm kê biên nhà ở “Kê biên tài sản” là thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong pháp luật tố tụng dân sự đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh THADS năm1993, Pháp lệnh THADS năm 2004, Luật THADS năm 2008, Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014,… Trong cuốn từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng cũng của nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 có định nghĩa kê biên tài sản như sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”. Như vậy, kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể.
Tài sản kê biên sẽ phục vụ cho mục đích là để cấm việc tẩu tán, phá hủy tài sản và để thực hiện nghĩa vụ của người có tài sản bị kê biên cả trong quá trình xét xử và thi hành án. Trong quá trình tố tụng dân sự nhiều chủ thể có quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản nhưng việc áp dụng ấy có tính chất và mục đích hoàn toàn khác nhau, không phải lúc nào kê biên tài sản cũng được áp dụng với tính chất là một biện pháp cưỡng chế để thi hành án. Hiện nay, chúng ta chưa có một khái niệm khát quát về tài sản mà chỉ có một định nghĩa mang tính chất liệt kê: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” [24, Điều 105].
Tại Bộ Luật dân sự năm 2015 có quy định bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền 9 với đất đai, nhà, công trình xây dựng; Tài sản khác theo quy định của pháp luật [24, khoản 1 Điều 107]. Khái niệm nhà ở được quy định tại Luật Nhà ở 2014 và được giải thích tại khoản 1 Điều 3 như sau: "Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân". Như vậy, "Nhà ở" theo Luật Nhà ở năm 2014 bao gồm: Nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở để phục vụ tái định cư, nhà ở xã hội. Theo đó, việc xác định đâu là nhà ở phụ thuộc vào mục đích sử dụng của nó chứ không phụ thuộc vào thực tế sử dụng.
Pháp luật THADS không có khái niệm thế nào là kê biên nhà ở. Tại Điều 71 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó có biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Luật THADS năm được sửa đổi, bổ sung 2014 có hẳn một điều riêng quy định về kê biên nhà ở [23, Điều 95]. Vậy kê biên nhà ở là một hình thức cưỡng chế THADS.
Cưỡng chế THADS là biện pháp thi hành án dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của họ do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành [32, tr 195]. Như vậy, kê biên nhà ở của người phải thi hành án là một trong 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án được ghi nhận tại Điều 71 của Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 để bảo đảm thực hiện trách nhiệm dân sự hay nghĩa vụ dân sự của người phải thi hành án theo bản án, quyết định của tòa án. Người trực tiếp áp dụng là Chấp hành viên. Nhà nước đã trao cho Chấp hành viên quyền định đoạt tài sản của người phải thi hành án để nhằm mục đích đảm bảo các nghĩa vụ thi hành bằng tiền mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành.
Đây là một biện pháp mang tính cưỡng bức bởi nằm ngoài ý chí và sự mong muốn của người phải thi 10 hành án. Dù người phải thi hành án không đồng ý hay chống đối thì Chấp hành viên khi đủ những căn cứ về mặt pháp lý là có thể áp dụng. Đặc điểm kê biên nhà ở - Về tính chất: Kê biên nhà ở trước hết là một biện pháp cưỡng chế thi hành án, là một biện pháp nghiêm khắc được áp dụng trên cơ sở quyền lực Nhà nước, thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh Nhà nước. Ở nước ta, thẩm quyền tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự thuộc về cơ quan THADS của Nhà nước.
Cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên. Đây là một biện pháp mang tính cưỡng bức bằng quyền lực Nhà nước bởi nằm ngoài ý chí và sự mong muốn của người phải thi hành án. Dù người phải thi hành án không đồng ý hay chống đối thì vẫn bị áp dụng khi có đủ những căn cứ về mặt pháp lý. - Về chủ thể áp dụng: do Chấp hành viên thực hiện.
Ngoài Chấp hành viên ra thì không ai có thể áp dụng biện pháp kê biên nhà ở. Bởi Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp [23, Điều 17]. Nhưng Chấp hành viên ở ngạch nào thì cũng vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trong đó có biện pháp kê biên nhà ở.
- Chủ thể bị áp dụng: là người phải thi hành án. Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Việc kê biên nhà ở không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án mà còn có hiệu lực với các nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan (người thuê nhà, người đang quản lý nhà của người phải thi hành án; cơ quan có thẩm quyền trong việc đăng ký, quản lý; người đứng tên chủ quyền sử dụng đất mà có nhà của người phải thi hành án xây dựng trên đất;…). 11 - Đối tượng bị áp dụng: tài sản là nhà ở.
Nhà ở bị kê biên là tài sản của người phải thi hành án, kể cả nhà ở đang do người thứ ba giữ. Khi kê biên nhà ở thì Chấp hành viên phải kê biên quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở [23, khoản 2 Điều 95]. - Hậu quả pháp lý: khi áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS nói chung và kê biên nhà ở nói riêng thì người bị áp dụng ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định do tòa án tuyên, họ còn phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự. Các chi phí cưỡng chế bao gồm: Chi phí thông báo về cưỡng chế thi hành án; Chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án; Chi phí cho việc định giá, giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản; Chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án; Chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ; Tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án [23, khoản 1 Điều 73].
Những quy định cơ bản về kê biên nhà ở Kê biên nhà ở là một biện pháp cưỡng chế và Chấp hành viên tác động trực tiếp đến tài sản của người phải thi hành án là nhà ở. Do vậy, việc kê biên nhà ở sẽ làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng, quyền sở hữu của người phải thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (người có quyền sở hữu, sử dụng chung; người đang nhận bảo đảm từ tài sản của người phải thi hành án,…). Chính vì vậy, các quy định của pháp luật THADS về cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án rất chặt chẽ và cụ thể. Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; tính chất, mức độ, nghĩa vụ 12 thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp.
Khi kê biên nhà ở, Chấp hành viên phải đảm bảo các quy định sau: Thứ nhất, việc áp dụng biện pháp kê biên nhà ở phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết [23, khoản 3 Điều 104]. Nên khi lựa chọn tài sản để kê biên, Chấp hành viên phải cân nhắc chọn nhà ở có giá trị ít nhất là lớn hơn hoặc bằng nghĩa vụ thi hành án và các khoản chi phí khác. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án. Công tác xác minh điều kiện thi hành án là khâu quan trọng giúp Chấp hành viên nắm rõ tất cả các tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án.
Do vậy, khi xác minh đòi hỏi Chấp hành viên phải vận dụng các kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ. Trong quá trình xác minh, Chấp hành viên cần làm rõ về loại tài sản, giá trị tài sản.