Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm thi hành án dân sự và thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm thi hành án dân sự Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [53, tr. Theo từ điển Luật học thì thi hành án là "giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của toà án nhất định có hiệu lực pháp luật" [36, tr.
Hiện nay trong các văn bản pháp lý về thi hành án vẫn chưa có điều luật nào khái niệm cụ thể về thi hành án dân sự. Chính vì vậy cũng phát sinh những ý kiến khác nhau về tính chất đặc trưng của thi hành án dân sự: Có ý kiến cho rằng "Thi hành án dân sự là tổng hợp các hành vi tố tụng thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định" [40, tr5]. Theo ý kiến này, thì có thể coi đây là một giai đoạn kết thúc quá trình tố tụng dân sự. Có ý kiến lại cho rằng: "Thi hành án dân sự là tố tụng hành chính vì các cơ quan thực hiện việc thi hành án thuộc Chính phủ không phải thuộc Tòa án, việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị trong thi hành án dân sự đã khác hẳn về hình thức, thủ tục so với việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trong tố tụng dân sự" [40, tr6].
Nhưng trên cơ sở bản chất của hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất tư pháp đặt dưới sự chỉ đạo, tổ chức và quản lý của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cho thấy, thi hành án dân sự có các đặc điểm sau: Thứ nhất, cơ sở của hoạt động thi hành án là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Khái niệm bản án, quyết định dân sự, có thể được hiểu dưới các góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, bản án, quyết định dân sự trong thi hành án dân sự được hiểu 9 là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ tài sản và nhân thân phi tài sản như bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự. Theo nghĩa rộng, bản án, quyết định dân sự trong thi hành án dân sự được hiểu không chỉ bao gồm các bản án, quyết định về giải quyết tranh chấp đối với các loại hợp đồng dân sự, hôn nhân và gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự của Tòa án, mà còn bao gồm các bản án, quyết định khác do pháp luật quy định.
Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật hiện hành, nhiều vụ việc có tính chất khác nhau, được giải quyết theo các trình tự khác nhau nhưng đến giai đoạn thi hành án đều được áp dụng theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự như đã nêu. Vì vậy, bản án, quyết định dân sự trong thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: bản án, quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định hình sự về bồi thường thiệt hại; quyết định về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới: Việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động), được thực hiện theo một thủ tục chung mà không có sự tách bạch căn bản việc thi hành án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại hay lao động. Thứ hai, đối tượng của THADS đa số là tài sản.
Bản chất của các quan hệ dân sự là quan hệ mang tính tài sản, chính vì thế mà đối tượng của THADS đa số là mang tính tài sản. Bên cạnh đó, đối tượng của THADS có thể là một hành vi như cấm hoặc buộc đương sự phải thực hiện hành vi nhất định, nhận người lao động trở lại làm việc, xin lỗi, cải chính, công khai. Thứ ba, tham gia vào quá trình thi hành án dân sự có nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nhau, song chủ thể có nhiệm vụ tổ chức thi hành án là các tổ chức thi hành án dân sự (ở Việt Nam hiện nay bao gồm các cơ quan thi hành án dân sự và 10 các tổ chức Thừa phát lại). Theo Điều 1 Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội ngày 26/11/2015 đã ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 và Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội.
Chấm dứt việc thí điểm và cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016. Vì vậy, ở Việt Nam hiện nay bên cạnh các cơ quan THADS, còn có các tổ chức Thừa phát lại thực hiện chức năng tổ chức thi hành án dân sự. Trong quá trình thi hành án dân sự Chấp hành viên, công chức thi hành án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Thứ tư, thi hành án và giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ với nhau.
Nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng và ngược lại. Do vậy, kết quả THADS phụ thuộc vào chất lượng bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Thứ năm, trong THADS, quyền tự định đoạt của các đương sự phù hợp với pháp luật luôn được tôn trọng và bảo vệ. Xuất phát từ quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, các đương sự trong THADS cũng có quyền yêu cầu hay không yêu cầu THADS và đối với trường hợp THADS theo đơn yêu cầu của đương sự thì việc tổ chức THADS chỉ được tiến hành trên cơ sở đơn yêu cầu của người có quyền yêu cầu THADS.
Khi đã yêu cầu THADS, các đương sự có quyền tự định đoạt liên quan đến lợi ích của mình, họ có quyền thỏa thuận với nhau về nội dung THADS, thời gian, địa điểm, phương thức THADS.Song, thỏa thuận của người được thi hành án và người phải thi hành án về việc THADS phải tự nguyện, không vi phạm điều pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội. Thứ sáu thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm hiệu lực thực tế của các bản án, quyết định của Tòa án, do đó trong trường hợp hết thời hạn tự nguyện theo quy định của pháp luật, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì cơ quan, tổ chức THADS có quyền sử dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật. 11 Thứ bảy, hoạt động thi hành án dân sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Hoạt động THADS rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của các cá nhân, tổ chức nên phải tuân thủ những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Từ những phân tích trên, cho thấy: Thi hành án dân sự là hoạt động nhằm thực hiện bản án, quyết định dân sự trên thực tế do các cơ quan, tổ chức THADS tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Khái niệm, đặc điểm thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là trường hợp cụ thể của THADS nói chung nhằm thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ việc dân sự, lao động, kinh doanh thương mại. Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả, một mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của xã hội và các tổ chức đối với phán quyết của cơ quan nhân danh nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại.
Như vậy, thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là hoạt động thi hành án nhằm mục đích buộc doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài hoặc quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay. Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp: có những đặc điểm chung phổ biến của THADS, đồng thời cũng có những đặc điểm đặc thù riêng. Đặc tính chung, phổ biến của thi hành án dân sự là được phát sinh trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án, do pháp luật thi hành án dân sự quy định; các chủ thể trong hoạt động thi 12 hành án bao gồm: Cơ quan THADS, Thủ trưởng cơ quan THADS, Chấp hành viên, Thừa phát lại, người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người phải thực hiện các nghĩa vụ đó theo quy định của pháp luật. Song nhìn chung, THADS đối với doanh nghiệp là người phải thi hành án có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, người phải thi hành án là doanh nghiệp – là pháp nhân có con dấu, tài sản độc lập, nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, được thành lập và hoạt động phù hợp với pháp luật Việt Nam.