CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH BẢO HỘ THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ HIỆN NAY Vấn đề bảo hộ thương mại (BHTM) có một nguồn gốc sâu xa trong lịch sử kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Trên thực tế đây đã trở thành vấn đề gây tranh cãi từ rất lâu, với vô số những nghiên cứu và luận điểm nhằm ủng hộ cũng như phản đối. Chủ đề này càng trở nên nóng bỏng hơn vào thời điểm của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, khi nhiều nước dù ra sức hô hào ủng hộ tự do thương mại, vẫn đưa ra những quyết định nhằm bảo hộ nền kinh tế trong nước. TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ THƯƠNG MẠI 1.
Bối cảnh ra đời và phát triển của bảo hộ thương mại Chính sách BHTM đã xuất hiện từ thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương. Học thuyết này cho rằng thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng bằng không. Sự giàu có của quốc gia này được đánh đổi bởi sự nghèo khó của quốc gia khác. Do đó, họ ủng hộ sự can thiệp sâu của Nhà nước vào lĩnh vực ngoại thương nhằm bảo hộ mậu dịch và duy trì xuất siêu.
Đến cuối thế kỷ XVIII, tư tưởng kinh tế tự do ra đời và được chấp nhận rộng rãi, các quốc gia bắt đầu giảm bớt các rào cản trong thương mại. Buôn bán quốc tế nhờ thế mà nhanh chóng phát triển. Đặc điểm cơ bản của thời kỳ này là tuy sự kiểm soát của chính phủ giảm dần nhưng chính sách bảo hộ vẫn còn, chỉ có điều những chính sách bảo hộ thời kỳ này có tính chất ôn hòa hơn, hướng vào nâng đỡ các ngành công nghiệp non trẻ để chúng có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Lê Thanh Hằng 4 Luận văn tốt nghiệp Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, CNTB tự do cạnh tranh chuyển sang CNTB độc quyền ở các nước phương Tây.
Chính sách thuế quan siêu bảo hộ được coi là đặc trưng của chính sách thương mại thời kỳ này, đóng vai trò là công cụ tối quan trọng để chủ nghĩa tư bản nắm độc quyền thị trường nội địa và mở rộng ra nước ngoài. Đây là chính sách bảo hộ mậu dịch mang tính chất cực đoan “xâm lược”, vừa “ngăn chặn” sự xâm nhập của hàng nhập khẩu vừa “tấn công” vào thị trường nước ngoài và “bành trướng” ra thế giới. Năm1930, Đại Khủng hoảng nổ ra tại các nước tư bản dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của bảo hộ. Thương mại thế giới bị thu hẹp đáng kể.
Năm 1947, nhằm khắc phục các biện pháp bảo hộ và nhanh chóng đẩy mạnh tự do thương mại, 23 quốc gia đã cùng tiến hành các cuộc thương lượng thuế quan trong khuôn khổ Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). Dưới sự bảo trợ của GATT và sau này là WTO đã có nhiều vòng đàm phán về mậu dịch đa phương. Thuế quan được cắt giảm liên tục cùng một loạt những nhượng bộ kinh tế. Từ cuối thập niên 90 trở về đây hầu hết ở 5 châu lục địa, các nước đua nhau lập ra liên minh kinh tế khu vực dưới dạng vùng mậu dịch tự do hay liên minh thuế quan, thị trường chung…Nguyên nhân của hiện tượng này là do xu thế nhất thể hóa nền kinh tế cho phép vừa gia tăng tốc độ phát triển tự do thương mại mạnh mẽ, vừa giúp các nước trong khối liên minh dựa vào nhau để chống lại sự xâm nhập từ các nước khác.
Hiện nay, song song với sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, chế độ bảo hộ mậu dịch vẫn tồn tại ở một mức độ nhất định. Các quốc gia vẫn còn thận trọng trước những đòi hỏi tự do hóa sâu sắc và đầy đủ hơn. Những mâu thuẫn về lợi ích giữa tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại vẫn luôn là đề tài tranh luận gay gắt trong các cuộc đàm phán đa phương của WTO. Lê Thanh Hằng 5 Luận văn tốt nghiệp 2.
Khái niệm Cho đến nay, đã có rất nhiều các định nghĩa về bảo hộ thương mại. Theo Từ điển Chính sách Thương mại Quốc tế của Walter Goode thì “bảo hộ thương mại là mức độ các nhà sản xuất nội địa và các sản phẩm của họ được bảo vệ khỏi sự cạnh tranh của thị trường quốc tế. Biện pháp cơ bản để đạt được điều này là thuế quan, trợ cấp, các hạn chế xuất khẩu tự nguyện và các biện pháp phi thuế quan khác. Các trường hợp phức tạp hơn có thể bao hàm cả các lĩnh vực văn hóa môi trường và các mối quan tâm khác.
Chính sách bảo hộ có thế cũng xuất hiện thông qua việc sử dụng nhiều bảo hộ có điều kiện. Trong phần lớn các trường hợp, chính sách bảo hộ chỉ làm trì hoãn việc điều chỉnh tất yếu trong các ngành không hiệu quả đối với thị trường”.1 Theo định nghĩa trong cuốn Từ điển Ngoại thương do T.S Nguyễn Đức Dỵ chủ biên thì “bảo hộ thương mại là chính sách của Nhà nước Tư bản trong lĩnh vực buôn bán quốc tế, nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước chống lại sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài trên thị trường nước mình. Chính sách này được thực hiện chủ yếu bằng biện pháp thuế quan và cả bằng một số biện pháp phi thuế quan như: đặt hạn ngạch hàng nhập khẩu để hạn chế nhập khẩu, bù lỗ cho hàng sản xuất trong nước.”2 Theo quan điểm của tổ chức Thương mại Thế giới WTO, bảo hộ thương mại được hiểu là việc Chính phủ các nước thiết lập các hàng rào nhằm cản trở luồng hàng hóa di chuyển từ nước này sang nước khác. Những hàng rào trên có thể là thuế quan, hạn ngạch, giấy phép xuất nhập khẩu, yêu cầu kiểm dịch… Tóm lại, bảo hộ thương mại là một hình thức trong chính sách thương mại quốc tế.
Trong đó, Nhà nước áp dụng các biện pháp như thuế quan, phi thuế quan, hạn ngạch, hàng rào kỹ thuật… để bảo vệ thị trường nội địa và nền 1 Walter Goode, Dictionary of Trade PolicyTerms, Cambridge University Press, 5th edition, 2007 2 Nguyễn Đức Dỵ, Từ điển Ngoại thương, 1985, trang 452 Lê Thanh Hằng 6 Luận văn tốt nghiệp sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Tác động của bảo hộ thương mại đối với nền kinh tế Tác động tích cực của bảo hộ thương mại Tác động rõ ràng nhất của chính sách BHTM là làm giảm bớt sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Qua đó, bảo vệ các nhà kinh doanh trong nước, một mặt giúp họ tăng cường sức mạnh trên thị trường nội địa, mặt khác tạo điều kiện cho họ xâm chiếm thị trường nước ngoài. Hơn nữa, chính sách BHTM còn tăng thu cho ngân sách Nhà nước và hỗ trợ điều tiết cán cân thanh toán quốc gia, sử dụng hợp lý nguồn ngoại tệ của mỗi nước.
Tác động tiêu cực của bảo hộ thương mại BHTM cản trở sự phát triển của thương mại quốc tế, đi ngược lại xu thế của thời đại là quốc tế hóa đời sống kinh tế trên toàn cầu. Bảo hộ quá chặt gây ra tình trạng trì trệ trong sản xuất kinh doanh nội địa. Mức độ bảo hộ kinh tế càng cao, càng làm cho sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp chiến lược không còn linh hoạt. Môi trường cạnh tranh giảm sút dẫn đến hậu quả là thiếu đi động lực thúc đẩy cải tiến công nghệ, hoạt động kinh doanh và đầu tư không mang lại hiệu quả.
Bảo hộ thương mại luôn dẫn tới thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước, bởi thị trường hàng hóa kém đa dạng, chất lượng thấp, giá cả lại đắt đỏ… Lợi ích ròng của xã hội bị giảm đi do người tiêu dùng phải mua hàng hóa với giá cao hơn và số lượng ít hơn. Tóm lại, về mặt lý thuyết, việc BHTM đem lại lợi ích nhất thời cho các nhà sản xuất trong nước, đảm bảo được công ăn việc làm cho một số nhóm người lao động nào đó. Mặt trái của nó là làm cho các nhà sản xuất trong nước không có động lực nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Điều này đem lại thiệt hại cho người tiêu dùng xét theo mục tiêu dài hạn.
Vì những ưu và nhược điểm trên cho nên không có quốc gia nào trên thế giới thi hành Lê Thanh Hằng 7 Luận văn tốt nghiệp chính sách BHTM một cách tuyệt đối, mà chỉ duy trì bảo hộ thương mại đối với một số những ngành hàng nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể. Các biện pháp bảo hộ thương mại Các biện pháp BHTM được áp dụng trên thế giới rất nhiều, vô cùng đa dạng và phức tạp. Nhưng tựu chung lại có hai nhóm biện pháp là thuế quan và phi thuế quan. Biện pháp bảo hộ thuế quan (Tariff) Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hóa tại biên giới quốc gia thường là hàng nhập khẩu.
Thuế quan có thể là thuế tuyệt đối tính trên một đơn vị hiện vật của hàng hóa, hoặc là thuế tính theo giá trị đánh một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định trên giá hàng nhập khẩu. Nhìn chung, sự bảo hộ được tiến hành bởi thuế quan được thừa nhận là có ba ưu điểm lớn: rõ ràng, ổn định dễ dự đoán và dễ đàm phán cắt giảm mức bảo hộ. Nhưng nhược điểm dễ thấy là không tạo được rào cản nhanh chóng. Theo quan điểm của WTO, do xuất phát điểm về mặt kinh tế giữa các thành viên của WTO khác nhau, cho phép các nước sử dụng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng phải ràng buộc và cam kết mức thuế tiến tới dần dần dỡ bỏ hoàn toàn.
Biện pháp bảo hộ phi thuế quan (Non-tariff measures - NTMs) Tổ chức Thương mại Thế giới WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào phi thuế quan như sau: “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lí, khoa học hoặc bình đẳng.”3 Các NTMs trong thực tế rất phong phú về hình thức, chủ yếu được chia thành các nhóm biện pháp sau đây: 3 Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, The General Agreement on Tariffs and Trade (GATT), 1994 http://www.org/english/docs_e/gattdocs_e.htm Lê Thanh Hằng 8 Luận văn tốt nghiệp Nhóm 1: Các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm: cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu, hình thức tự hạn chế xuất khẩu Nhóm 2: Các biện pháp tương đương thuế quan gồm: Định giá, xác định trị giá hải quan, biến phí, phụ thu.