CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ VÀ TUÂN THỦ THUẾ 1.1 Cơ sở lý luận về thuế 1.1 Khái niệm Hiện nay trên thế giới có không ít khái niệm về thuế được đưa ra trên các quan điểm và góc độ khác nhau. Trong đó có một số khái niệm như sau: Theo Joseph E.stigliz: “Với mô hình nhà nước giản đơn thì thuế được hiểu đơn thuần là sự cung cấp dịch vụ trực tiếp của người bị trị cho người thống trị” Các nhà kinh điển lại cho rằng: “ Thuế là cái Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “ Thuế cấu thành nên phần thu của chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế” ( Theo Lênin toàn tập – tập 15) Trên góc độ của phân phối thu nhập thì thuế được hiểu là hình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trên góc độ kinh tế học thì thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội. Dựa trên những khái niệm và quan điểm nêu trên ta có thể hiều thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các cá nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.2 Đặc điểm Thuế là một khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ nghĩa vụ nộp thuế của NNT là do pháp luật nhà nước quy định.
Đặc điểm này giúp phân biệt thuế với các khoản thu trên cơ sở tự nguyện để hình thành nên ngân sách nhà nước. Các khoản thu tự nguyện này hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của người nộp còn thuế là khoản phải nộp bắt buộc khi đủ điều kiện theo quy định của nhà nước dù NNT có muốn hay không. Thuế là khoản đóng góp mang tính không hoàn trả trực tiếp 3 Với số tiền thuế thu được nhà nước sẽ sử dụng cho các chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của nhà nước. Tất cả những cá nhân từ những người có nộp thuế hay không phải nộp thuế, nộp thuế nhiều hay nộp thuế ít cho nhà nước đều bình đẳng trong việc nhận được các phúc lợi công cộng từ chính phủ.
Đặc biệt số thuế mà các đối tượng phải nộp được tính toán dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ chứ không căn cứ vào những lợi ích công cộng mà NNT nhận được. Thuế mang tính pháp lý cao và được bảo vệ bởi luật Đặc điểm này được thể chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Tại mỗi nước, việc đóng thuế được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc của các cá nhân và tổ chức kinh tế. Nếu bất cứ tổ chức, cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình đối với nhà nước tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó và những đối tượng này sẽ bị xử phạt theo quy định tùy vào từng mức độ vi phạm.3 Vai trò của thuế Thứ nhất thuế là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước Một quốc gia có tình hình tài chính lành mạnh sẽ chủ yếu dựa vào nguồn thu từ nội bộ của nền kinh tế quốc dân.
Để có thể tồn tại và phát triển, nhà nước sẽ dùng quyền lực chính trị của mình để yêu cầu các thành viên trong xã hội phải thực hiện nghĩa vụ thuế. Thực tế cho thấy thuế thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu của NSNN do các nguồn thu từ đi vay, nhận viện trợ, bán tài sản quốc doanh, bán tài nguyên… được coi là những nguồn thu không bền vững. Những nguồn thu này thường mang tính chất tạm thời và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quan hệ quốc tế, sản lượng tài nguyên, khoáng sản còn để khai thác hay khả năng trả nợ của quốc gia. Bởi vậy mà thuế được coi là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất đối với ngân sách nhà nước.
Thứ hai thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước Thuế tham gia điều tiết nền kinh tế theo hai mặt là kích thích và hạn chế. Thông qua việc xây dựng một hệ thống thuế chặt chẽ và xác định một cách hợp lý các đối tượng nộp thuế, thuế suất, chế độ miễn giảm cũng như phương pháp quản lý thuế nhà nước có thể khuyến khích, tạo điều kiện đối với các hoạt động sản xuất 4 kinh doanh đạt hiệu quả cao, các mặt hàng thiết yếu, đồng thời kìm hãm những ngành sản suất kinh doanh không cần thiết, gây hại cho xã hội nhằm hạn chế tiêu dùng, chống lãng phí từ đó điều chỉnh lại cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực và phân phối lại sản phẩm xã hội. Ngoài ra thuế còn thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng thị trường, giao lưu trao đổi hàng hóa với quốc tế nhưng bên cạnh đó thuế cũng là công cụ để bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước được cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài. Bằng việc đưa ra các chính sách thuế khác nhau nhà nước sẽ tiến hành điều tiết nền kinh tế theo hướng mong muốn tùy vào từng thời điểm khác nhau bởi vậy thuế là một trong những công cụ điển hình được chính phủ sử dụng để thực hiện kế hoạch quản lý của mình.
Thứ ba thuế đảm bảo phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau. Một số người sẽ giàu lên nhanh chóng còn lại một bộ phận vẫn sẽ ở mức thu nhập thấp tạo nên khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. Thực tế sự phát triển của đất nước là kết quả nỗ lực của cả một cộng đồng, sẽ không công bằng nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi người. Chính vì vậy thuế ra đời để làm giảm sự khác biệt sẵn có bằng cách yêu cầu người có thu nhập cao nộp nhiều thuế hơn những người có thu nhập thấp.
Tuy nhiên không vì thế mà thuế làm mất đi sự bình đẳng giữa các thành phần trong nền kinh tế bởi chính sách thuế được áp dụng cho các tổ chức, cá nhân thuộc cùng một ngành nghề, lĩnh vực là giống nhau và không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào giữa các đối tượng này.4 Phân loại thuế a. Theo đối tượng chịu thuế Dựa theo đối tượng chịu thuế thì thuế được chia làm 3 loại: - Thuế thu nhập: bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được, thu nhập này có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau như thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thu nhập từ lợi tức cổ phần… Do vậy thuế thu nhập cũng có các hình thức khác nhau là thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. 5 - Thuế tài sản: là các loại thuế đánh trực tiếp vào giá trị của tài sản chứ không phải thu nhập phát sinh từ tài sản đó. - Thuế tiêu dùng: là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập mang đi tiêu dùng ở thời điểm hiện tại ví dụ như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế xuất nhập khẩu… b.
Theo hình thức đánh thuế Gồm 2 loại là thuế gián thu và thuế trực thu - Thuế gián thu: là loại thuế không đánh trực tiếp vào tài sản hay thu nhập của người chịu thuế mà đánh gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu dùng và người nộp thuế gián thu là người đóng thuế hộ cho người tiêu dùng. - Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào tài sản hoặc thu nhập của các pháp nhân hay thể nhân được quy định nộp thuế, theo đó người nộp thuế cũng đồng thời là người chịu thuế. Theo mối quan hệ giữa thuế và thu nhập Đối với chỉ tiêu này thuế được chia làm ba loại như sau: - Thuế theo tỷ lệ cố định: là loại thuế áp dụng cho một mức thuế suất cố định, không thay đổi kể cả khi thu nhập thay đổi. - Thuế lũy tiến: là loại thuế có tỷ lệ thuế tăng dần theo mức tăng của cơ sở tính thuế tức là những người có thu nhập càng cao thì sẽ đóng thuế càng nhiều nhờ thế mà công bằng xã hội được đảm bảo.
- Thuế lũy thoái: là loại thuế có tỷ lệ thuế giảm trong khi cơ sở tính thuế tăng lên, loại thuế này thường ảnh hưởng đến những người có thu nhập thấp hơn những người có thu nhập cao bởi nó được áp dụng thống nhất cho mọi trường hợp, không phân biệt đối tượng nộp thuế do vậy không đảm bảo được tính công bằng xã hội. Cơ sở lý luận về tuân thủ thuế 1.1 Khái niệm tuân thủ thuế Jackson và Milliron (1986) cùng Alm (1991) định nghĩa : “ tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của pháp luật, pháp lệnh hoặc phán quyết của tòa án”. Mặt khác Kirchler (2007) lại cho rằng: “ tuân thủ thuế mô tả sự sẵn sàng nộp thuế của người nộp thuế”. 6 Ngoài ra tuân thủ thuế còn được định nghĩa là tuân thủ các quy tắc hành chính về khai thuế, tính thuế chính xác cũng như nộp thuế đúng hạn dựa trên các yêu cầu, quy định của luật thuế (OECD, 2001).
Như vậy, có thể hiểu tuân thủ thuế là việc người nộp thuế chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về thuế theo đúng luật quy định bao gồm các hoạt động đăng ký thuế, kê khai, tính thuế, nộp thuế và báo cáo thuế. Tuân thủ thuế biểu hiện ở việc chấp hành đúng các tiêu chí về thời gian, mức độ chính xác, trung thực, đầy đủ các nghĩa vụ về thuế mà nhà nước yêu cầu. Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu đều dẫn đến sự không tuân thủ thuế ở các mức độ khác nhau.