CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các công tình nghiên cứu về cơ sở thuế và xói mòn cơ sở thuế 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trong thời gian vừa qua, trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về chống xói mòn CST và chuyển lợi nhuận.
Tiêu biểu là các công trình sau: (1) Fuest và Riedel (2009), Tax evasion, tax avoidance and tax expenditures in developing countries: A review of the literature. Một báo cáo được chuẩn bị cho Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh đã phân tích các tài liệu hiện có về chênh lệch thuế mà các nước đang phát triển phải gánh chịu do tránh thuế và trốn thuế. Báo cáo kết luận rằng kiến thức sẵn có về thất thu thuế ở các nước đang phát triển do trốn thuế và tránh thuế là rất hạn chế. Điều này một phần là do thiếu dữ liệu và một phần là do thiếu sót về phương pháp luận của các nghiên cứu hiện có [79].
(2) Fuest và Riedel (2010), Tax evasion and tax avoidance in developing countries, Working paper, Oxford university centre for business taxation. Nghiên cứu thảo luận về các phương pháp thay thế và đề xuất việc sử dụng các bộ dữ liệu như ORBIS, COMPUSTAT, Cơ sở dữ liệu BEA về hoạt động của các CTĐQG, Cơ quan điều tra thường niên về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Văn phòng thống kê quốc gia Vương quốc Anh (AFDI) và Cơ sở dữ liệu vi mô Deutsche Bundesbank về đầu tư trực tiếp (MiDi), khuyến nghị các nguồn dữ liệu vi mô phù hợp hơn để xác định các hoạt động chuyển dịch lợi nhuận của công ty. Nghiên cứu đưa ra một số bằng chứng thực nghiệm ủng hộ quan điểm rằng việc dịch chuyển lợi nhuận ra khỏi nhiều nước đang phát triển và vào các thiên đường thuế thực sự đã diễn ra [80]. (3) Clemens Fuest và cộng sự (2011), International profit shifting and multinational firms in developing countries.
Bài báo phân tích sự dịch chuyển lợi nhuận do thuế gây ra ra khỏi các nước đang phát triển và phát triển thông qua nợ vay. Bài báo chỉ ra rằng các chi nhánh của các CTĐQG ở các quốc gia có thuế suất thấp cung cấp các khoản vay cho các công ty liên kết ở các quốc gia có thuế cao. Cơ cấu tài 11 trợ của các công ty liên kết ở các nước đang phát triển nhạy cảm hơn với các ưu đãi thuế so với cơ cấu tài trợ của các chi nhánh ở các nước có thuế suất cao. Kết quả của bài báo cho thấy tác động cận biên của việc thay đổi thuế suất đối với việc tài trợ thuế ở các nước đang phát triển cao gấp đôi so với các nước phát triển [67].
(4) OECD (2013), Action Plan on Base Erosion and Profit Shifting. Đây là tài liệu chính thức của OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) về Chương trình hành động chống xói mòn CST và chuyển lợi nhuận (BEPS). Theo nhận định của OECD, BEPS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, đặc biệt là thuế TNDN. Việc tham gia vào Diễn đàn hợp tác chung thực hiện các giải pháp chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển lợi nhuận sẽ giúp các nước có được sự hỗ trợ cần thiết để triển khai các giải pháp ngăn chặn BEPS hiệu quả, giúp bảo vệ nguồn thu và cơ sở tính thuế [114].
(2014), How serious is the problem of base erosion and profit shifting?. Bài báo phân tích tầm quan trọng của Chương trình hành động chống xói mòn CST và chuyển lợi nhuận do OECD đề xuất. Tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cạnh tranh thuế với thực hiện các đề xuất của OECD về chống xói mòn CST thuế chuyển lợi nhuận [100]. (6) Isabel Lamers, Pauline Mcharo và Kei Nakajima (2014), Tax Base Erosion and Profit Shifting (BEPS) and International Economic Law.
Bài báo này chỉ ra các hành vi mà các CTĐQG chuyển dịch lợi nhuận, gây xói mòn CST trong đó chỉ ra hành vi lợi dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần là hành vi gây xói mòn CST nghiêm trọng và phổ biến. Để thúc đẩy quá trình hoàn thiện các hiệp định thuế của các quốc gia, các tiêu chuẩn luật quốc tế cần nhất quán, bao gồm các tiêu chí tiêu chuẩn hóa, các phương pháp, các quy tắc về nguyên tắc giao dịch độc lập, quy tắc giảm trừ đối với các DN có giao dịch liên kết (GDLK) cần phải được xây dựng [98]. (7) IMF (2015), Base erosion, profit shifting and developing countries. Bài báo này sử dụng dữ liệu bảng cho 173 các quốc gia trong hơn 33 năm để nghiên cứu bản chất của xói mòn CST, đặc biệt tập trung vào các quốc gia đang phát triển.
Kết quả nghiên cứu của bài báo chỉ ra rằng tác động của xói mòn CST là mối quan ngại của các quốc gia đang phát triển [97]. 12 (8) Helen Miller và Thomas Pope (2016), Corporate tax avoidance: tackling Base Erosion and Profit Shifting. Bài báo đã giới thiệu tóm tắt về Chương trình hành động chống xói mòn CST và chuyển lợi nhuận của OECD, chỉ ra tầm quan trọng của việc các quốc gia nên thực hiện Chương trình này. Tác giả nhận định rằng, thực hiện BEPS sẽ có nhiều tác động tốt đến nỗ lực chống xói mòn CST, song BEPS không phải là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa vào căn phòng loại bỏ hoàn toàn việc tránh thuế từ chuyển lợi nhuận của các CTĐQG [93].
Clausing (2017), Competitiveness, Tax Base Erosion, and the Essential Dilemma of Corporate Tax Reform. Bài báo đánh giá hệ thống thuế nội địa hiện hành của Mỹ dưới góc độ cạnh tranh về thuế, chống xói mòn CST, phân tích mối quan hệ giữa cạnh tranh về thuế với xói mòn CST. Từ đó, tác giả đề xuất một số hướng cải cách hệ thống thuế của Mỹ nhằm chống xói mòn CST [105]. Shelepov (2017), “Indonesia and the BRICS: Implementing the BEPS Action Plan”.
Bài báo này đánh giá quá trình triển khai áp dụng BEPS ở Indonesia và một số nước khác như Nga, Ấn Độ, Brazil, Nam Phi và Trung Quốc. Tác giả đã đánh giá quá trình triển khai 13 trên 15 chương trình hành động của BEPS và chỉ ra những kinh nghiệm triển khai tốt nhất tại Nga. Tác giả bài báo đã nghiên cứu môi trường thể chế để thực hiện BEPS, quy trình tham vấn và cơ chế tham khảo ý kiến của các bên liên quan trước khi sửa đổi quy định pháp luật để thực hiện BEPS [57]. Một loạt các nghiên cứu của Công ty Kiểm toán Deloitte về quá trình thực hiện BEPS ở nhiều quốc gia trên thế giới với tên gọi chung “BEPS Actions implementation by country” ở nhiều quốc gia như Vương quốc Anh, Nga, Bỉ, Nhật Bản, Ả Rập Xê Út, Canada.
Tình hình nghiên cứu trong nước (1) Vũ Như Thăng (2016) “Gói hành động về xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS): khả năng áp dụng tại Việt Nam”. Trên cơ sở khái quát hóa các nội dung và nhận diện hành vi về xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS); BEPS và những tác động đến nguồn lực trong nước và trong bối cảnh các nước đang phát triển; Đề tài đã hệ thống được các biện pháp chính sách và quản lý có liên quan của Việt Nam nhằm xử lý vấn đề xói mòn CST, chuyển lợi nhuận, đưa ra 13 được kinh nghiệm các nước trong triển khai Dự án BEPS và rút ra bài học cho Việt Nam. Đề tài đã đề xuất được một số giải pháp thực hiện BEPS tại Việt Nam [47]. (2) Vũ Như Thăng, Nguyễn Đăng Khoa (2017), Chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển dịch lợi nhuận: Thách thức toàn cầu và những khuyến nghị đối với Việt Nam.
Bài báo đã phân tích rõ bối cảnh cần thực hiện Chương trình chống xói mòn CST và chuyển dịch lợi nhuận, Nhóm tác giả phân tích 6 điểm khác biệt khi thực hiện BEPS ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển; đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện BEPS ở Việt Nam [48]. (3) Nguyễn Quang Tiến (2017), Hợp tác quốc tế chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Bài báo đã phân tích các yêu cầu thực tế đòi hỏi các biện pháp tổng thể để chống xói mòn CST và chuyển lợi nhuận trên cơ sở hợp tác đa phương; giới thiệu Diễn đàn hợp tác chung và yêu cầu đối với các nước đang phát triển khi tham gia BEPS; đánh giá những nỗ lực bước đầu của Việt Nam trong chống xói mòn CST và chuyển lợi nhuận; nêu khái lược một số hoạt động chính Việt Nam sẽ thực hiện theo cam kết với OECD và G20, tập trung vào các vấn đề chính là: văn bản pháp luật về QLT đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT); xem xét, rà soát các hiệp định thuế; sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm soát chuyển giá; rà soát các ưu đãi thuế TNDN [51]. (4) Lưu Đức Huy (2019), Mở rộng cơ sở thuế và chống xói mòn nguồn thu ngân sách nhà nước.
Đề tài đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về mở rộng CST và chống xói mòn nguồn thu NSNN, phân tích thực trạng mở rộng CST và chống xói mòn nguồn thu NSNN ở Việt Nam thời gian qua cả về chính sách thuế và một số lĩnh vực còn khoảng trống trong QLT như TMĐT, QLT đối với hộ kinh doanh cá thể…. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm mở rộng CST và chống xói mòn nguồn thu NSNN ở Việt Nam trong thời gian tới [38]. (5) Chương trình Chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS) của Bộ Tài chính. Đây là chương trình nghiên cứu khả năng gói 15 Hành động BEPS theo khuyến nghị của OECD và khả năng tham gia Diễn đàn toàn cầu thực hiện BEPS đối với Việt Nam [114].
Các công trình nghiên cứu về các hành vi gây xói mòn cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp và các biện pháp chống xói mòn cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Hành vi lợi dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần và các biện pháp chống xói mòn cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp từ hành vi lợi dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần * Tình hình nghiên cứu ngoài nước (1) Graeme S. Cooper (2014), Preventing tax treaty abuse. Bài báo khoa học phân tích các hành vi lợi dụng hiệp định tránh đánh thuế hai lần của các quốc gia đang phát triển theo mẫu hiệp đinh của OECD và Liên hợp quốc, đồng thời chỉ ra sự tương tác giữa hiệp định tránh đánh thuế hai lần với luật thuế nội địa.