Luận án khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại việt nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới

Tổng hợp kiến thức Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam trong khủng hoảng kinh tế toàn, tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2019

167
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học

2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu tổng quát

2.2. Mục tiêu cụ thể

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tình hình tài chính và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Khả năng sinh lời (khả năng sinh lời) của các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô và vi mô. Trong giai đoạn khủng hoảng, các ngân hàng phải đối mặt với nhiều thách thức như nợ xấu gia tăng, thanh khoản giảm sút và lãi suất biến động. Theo số liệu từ IMF, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu đã giảm mạnh trong giai đoạn 2007-2009, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng thương mại. Các ngân hàng cần điều chỉnh chiến lược kinh doanh để thích ứng với tình hình mới, từ đó nâng cao khả năng sinh lời.

1.1. Tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Theo nghiên cứu của Le (2017), trong giai đoạn khủng hoảng, lãi suất cận biên (NIM) của các ngân hàng giảm khoảng 1,5 lần so với thời kỳ ổn định. Điều này cho thấy rằng khủng hoảng kinh tế không chỉ làm giảm lợi nhuận mà còn làm gia tăng rủi ro cho các ngân hàng. Các ngân hàng cần phải có các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả hơn để bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh bất ổn này.

1.2. Chiến lược kinh doanh trong bối cảnh khủng hoảng

Để đối phó với khủng hoảng kinh tế, các ngân hàng thương mại cần điều chỉnh chiến lược kinh doanh của mình. Việc tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng sinh lời cao như đầu tư vào sản xuất kinh doanh thay vì bất động sản hay chứng khoán là rất cần thiết. Các ngân hàng cũng cần tăng cường kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro để đảm bảo an toàn tài chính. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước cũng cần được điều chỉnh để hỗ trợ các ngân hàng trong việc duy trì khả năng sinh lời và ổn định hệ thống tài chính.

II. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời

Các yếu tố kinh tế vi mô và vĩ mô có tác động lớn đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, các yếu tố như lãi suất, tỷ lệ nợ xấu, và tình hình thanh khoản đều có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tú và Phạm Trí Nghĩa (2019) cho thấy rằng rủi ro tín dụng và mức ngại rủi ro có mối quan hệ tích cực với khả năng sinh lời. Điều này cho thấy rằng các ngân hàng cần phải quản lý rủi ro một cách hiệu quả để duy trì lợi nhuận trong thời kỳ khó khăn.

2.1. Yếu tố kinh tế vi mô

Yếu tố kinh tế vi mô như chi phí hoạt động, chất lượng tài sản và quản lý rủi ro có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Các ngân hàng cần tối ưu hóa chi phí hoạt động và nâng cao chất lượng tài sản để cải thiện lợi nhuận. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý cũng giúp các ngân hàng tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động.

2.2. Yếu tố kinh tế vĩ mô

Yếu tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, lãi suất thường biến động mạnh, ảnh hưởng đến chi phí vốn của ngân hàng. Các ngân hàng cần theo dõi sát sao các chỉ số kinh tế vĩ mô để điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp, từ đó duy trì khả năng sinh lời.

III. Giải pháp nâng cao khả năng sinh lời trong bối cảnh khủng hoảng

Để nâng cao khả năng sinh lời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, các ngân hàng thương mại cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tiên, cần tăng cường quản lý rủi ro và kiểm soát nợ xấu. Thứ hai, các ngân hàng nên đa dạng hóa danh mục đầu tư và tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng sinh lời cao. Cuối cùng, việc cải thiện chất lượng dịch vụ và tăng cường mối quan hệ với khách hàng cũng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao khả năng sinh lời.

3.1. Quản lý rủi ro hiệu quả

Quản lý rủi ro là yếu tố then chốt giúp các ngân hàng duy trì khả năng sinh lời trong bối cảnh khủng hoảng. Các ngân hàng cần xây dựng hệ thống quản lý rủi ro chặt chẽ, từ đó giảm thiểu nợ xấu và bảo vệ lợi nhuận. Việc áp dụng các công nghệ mới trong quản lý rủi ro cũng giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động.

3.2. Đa dạng hóa danh mục đầu tư

Để giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời, các ngân hàng cần đa dạng hóa danh mục đầu tư. Việc đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp các ngân hàng giảm thiểu tác động tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế. Đồng thời, các ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc phát triển các sản phẩm dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của khủng hoảng kinh tế đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các ngân hàng thương mại Việt Nam đạt được khả năng sinh lời hợp lý trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ KINH TẾ VÀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 2.1 Khái niệm về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế Có nhiều quan điểm về khái niệm chu kỳ kinh tế. Kinh tế chính trị Marx-Lenin (2009) cho rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn giai đoạn là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Burns và Mitchell (1946) cho rằng chu kỳ kinh tế là một chu kỳ kinh doanh, bao gồm bốn giai đoạn lần lượt: suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh.

Khi suy thoái kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế và dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Do đó, chính phủ các nước thường hoạch định những chính sách can thiệp vào nền kinh tế nhằm giảm nhẹ hậu quả do suy thoái gây ra. Vì thế, một số quan điểm mới mà tiêu biểu là Samuelson và Nordhaus (2007) cho rằng, chu kỳ kinh tế là sự biến động của GDP thực theo trình tự ba giai đoạn, lần lượt là giai đoạn suy thoái, giai đoạn phục hồi và giai đoạn hưng thịnh. Trong đó, giai đoạn suy thoái là sự suy giảm của GDP thực trong thời gian liên tục hai hoặc hơn hai quý (tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý).

Gordon (1994) cho rằng chu kỳ kinh tế bao gồm những giai đoạn bành trướng xảy ra hầu như cùng một lúc trong nhiều hoạt động kinh tế, và tiếp theo đó lại có những giai đoạn khủng hoảng và những giai đoạn hồi phục được hòa nhập vào giai đoạn bành trướng của chu kỳ tiếp sau. Begg và cộng sự (2007) cho rằng chu kỳ kinh tế là sự biến động của tổng sản lượng trong ngắn hạn xung quanh đường xu thế của nó (đường xu thế của sản lượng là một tiến trình đều đặn của sản lượng dài hạn khi mà những biến động trong ngắn hạn đã được tính bình quân). Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ cho rằng suy thoái kinh tế là sự sụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng đến hơn một năm. Suy thoái kinh tế có thể liên quan tới sự suy giảm đồng thời nhiều chỉ số kinh tế như việc làm, đầu tư, lợi nhuận 14 doanh nghiệp và có thể gắn liền với lạm phát hoặc giảm phát.

Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế (NBER, 2010). Giai đoạn phục hồi là khi GDP bắt đầu tăng trở lại và tăng cho đến khi đạt bằng mức GDP trước suy thoái kinh tế. Quá trình phục hồi ra khỏi thời kỳ thu hẹp được xác định bằng việc nền kinh tế đã tăng trưởng ngày một cao trong ba quý liên tiếp kể từ điểm đáy. Điểm ngoặt giữa hai giai đoạn suy thoái và giai đoạn phục hồi là đáy của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007).

Giai đoạn hưng thịnh là khi GDP tăng lớn hơn mức GDP đạt lúc trước khi suy thoái xảy ra thì nền kinh tế đang ở giai đoạn hưng thịnh và giai đoạn hưng thịnh kết thúc bằng sự bắt đầu giai đoạn suy thoái mới. Điểm ngoặt từ giai đoạn hưng thịnh sang giai đoạn suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 2007).2 Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế Lý thuyết chu kỳ kinh tế được nghiên cứu vào đầu thế kỷ 19, với 2 xu hướng chính. Xu hướng thứ nhất, theo quan điểm kinh tế chính trị của Marx (1894), nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và phương thức chiếm hữu tư nhân mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không thể tránh khỏi. Tư bản là giá trị tự gia tăng mà xu hướng mở rộng bành trướng là bản chất cơ bản của nó.

Mục tiêu của nhà tư bản là tăng giá trị vốn, chứ không phải tiêu dùng. Nguyên nhân chính này làm nảy sinh các mâu thuẫn khác giữa tư bản và lao động, sản xuất và tiêu dùng, sự tổ chức sản xuất bài bản bên trong xí nghiệp riêng lẻ và tính vô chính phủ của nền sản xuất. Xu hướng thứ hai, với đại diện là các nhà kinh tế học Sismondi, Rodbertus, Malthus, là những người đầu tiên công nhận khả năng của cuộc khủng hoảng toàn diện – khủng hoảng sản xuất thừa trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh đó, họ đã đặt vấn đề về các nguyên nhân xuất hiện của khủng hoảng kinh tế.

Sismondi (1819) cho rằng nguyên nhân chính của chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế nằm trong mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, ông gần như hiểu được tính quy luật khách quan của khủng hoảng kinh tế, đó là hiện tượng thường xuyên lập lại. Tính không hoàn thiện của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa như việc các doanh nhân đưa ra những quyết định sản xuất chỉ chủ yếu dựa trên giá và chi phí mà 15 không biết về các hành động của nhau. Kết quả là lượng cung được xác định bởi lượng vốn, chứ không phải lượng cầu.

Dẫn đến khả năng sản xuất thừa. Theo Malthus (1820), nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là một phần sản phẩm tương ứng về giá trị với lợi nhuận không tìm thấy đủ cầu trên thị trường. Luận điểm này giống lý thuyết cầu hiệu quả của Keynes sau này. Nhưng theo ông, khủng hoảng kinh tế chỉ là hiện tượng tạm thời.

Rodbertus (1850) nghiên cứu vấn đề phân phối, nhận định rằng khủng hoảng kinh tế xuất phát từ xu hướng thiểu dùng (tiêu dùng không đủ) của giai cấp công nhân do bởi tiền lương tăng chậm hơn cung hàng hóa. Sang thế kỷ 20, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 đã thúc đẩy khoa học kinh tế mở rộng và đi sâu nghiên cứu chu kỳ kinh tế và khủng hoảng kinh tế. Theo trường phái Keynes (1936), xuất phát từ sự tồn tại của sự không chắc chắn không thể suy giảm trong một nền kinh tế sử dụng tiền tệ, kết quả là nền kinh tế có những giai đoạn tăng trưởng nhanh và suy thoái, sau đó là khủng hoảng. Trong giai đoạn tăng trưởng chậm, các doanh nghiệp thường tỏ ra bi quan, và trong thời kỳ bùng nổ, họ lại quá lạc quan.

Khi không tin rằng hoạt động đầu tư của mình sẽ có lợi thì doanh nghiệp giữ tiền mặt và trả bớt nợ (chứ không tăng đầu tư trong dài hạn và giúp nền kinh tế tự điều chỉnh như trong quan điểm cổ điển). Do đó tổng cầu sẽ dịch chuyển giữa đỉnh và đáy của chu kỳ kinh tế chủ yếu tùy vào tính bầy đàn của nhà đầu tư. Một khi cầu bắt đầu đi xa khỏi quỹ đạo toàn dụng thì nền kinh tế có thể lao xuống dốc theo hình trôn ốc, và rất khó để đưa nền kinh tế trở về hướng đi toàn dụng nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Do đó, một trong những hàm ý của quan điểm này là nền kinh tế không tự điều tiết, và chính phủ phải hành động để kích cầu khi nền kinh tế suy yếu, và làm nguội nền kinh tế khi quá nóng.

Nếu không đủ dòng tiền chảy vào nền kinh tế để giúp cho quá trình tái tài trợ thì tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài và kết quả là khủng hoảng kinh tế xảy ra. Khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, việc thắt chặt chi tiêu của chính phủ, tâm lý ngại cho vay của các ngân hàng càng làm cho khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn. Do vậy, chính phủ cần đẩy mạnh chi tiêu nhằm tăng tổng cầu trong thời kỳ khủng hoảng và thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ tăng trưởng nóng. Đối với thị trường tài chính, trong giai đoạn khủng hoảng, ngân hàng trung ương cần hành động nhanh chóng nhằm tạo thanh khoản cho thị trường, ngăn chặn tình trạng găm giữ tiền mặt, 16 khơi thông dòng vốn trong nền kinh tế.

Quan điểm của Keynes về lãi suất cho rằng, lãi suất không nên giảm xuống thấp hơn một mức nào đó vì khi lãi suất quá thấp, các nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn thay vì mua trái phiếu, làm cho đầu tư giảm trong khi tình trạng tiết kiệm trở nên quá mức, làm giảm tổng cầu. Bên cạnh đó, Keynes còn cho rằng, lãi suất giảm không hẳn sẽ dẫn đến tăng đầu tư. Lãi suất giảm, nhưng tiết kiệm chưa chắc đã giảm theo do hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế của giảm lãi suất triệt tiêu lẫn nhau. Và khi tiết kiệm không giảm thì đầu tư không tăng.

Đầu tư mang tính chất dài hạn nên không vì lãi suất giảm trong ngắn hạn mà đầu tư sẽ tăng lên. Tiết kiệm quá cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế do hộ gia đình giảm tiêu dùng, doanh nghiệp không đầu tư để sản xuất nhiều hàng hóa hơn do lo ngại không đủ cầu để tiêu thụ hàng hóa mà họ sản xuất ra và không chắc chắn về triển vọng của nền kinh tế. Trường phái tân cổ điển đồng ý với Keynes rằng nền kinh tế không thể tự điều tiết trong ngắn hạn mà cần có sự can thiệp của chính phủ, nhưng lại bác bỏ quan điểm của Keynes về sự không chắc chắn không thể suy giảm. Họ cho rằng thông tin là tốn kém, người lao động sẽ không chấp nhận một mức cắt giảm lương danh nghĩa kể cả khi mức giá chung đang giảm.

Theo trường phái tân cổ điển, nguyên nhân của sự thu hẹp quy mô đầu tư của các nhà đầu tư cũng như sự không sẵn sàng tiêu dùng của hộ gia đình là vì họ dự đoán thuế sẽ cao hơn trong tương lai để bù đắp thâm hụt ngân sách ngày càng lớn của chính phủ. Bất kỳ nỗ lực nào của chính phủ nhằm thúc đẩy việc làm trong suy thoái đều sẽ dẫn đến lạm phát mà không tăng được sản lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phân tích khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tài chính và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện khả năng sinh lời và quản lý rủi ro. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tình hình ngân hàng Việt Nam mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tài chính ngân hàng hiện nay.