LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của Đề tài Ngay từ những ngày đầu tiếp nhận lại nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), Chính phủ Việt Nam đã luôn coi đây là một phương tiện thúc đẩy hội nhập kinh tế và hỗ trợ giảm nghèo. Gần đây nhất, tại hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam, nhóm các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết trợ giúp hơn 8 tỷ USD, trong đó 1,4 tỷ là khoản viện trợ ODA cho năm 2010.Việc tranh thủ thu hút và sử dụng nguồn lực ODA đã góp phần tích cực phục vụ sự nghiệp xây dựng và kiến thiết đất nước như: tập trung vào lĩnh vực cải cách kinh tế, tăng cường tính hiệu lực của hệ thống pháp luật và vai trò của các Tổ chức xã hội dân sự, ngăn chặn và giảm thiểu những thách thức đe doạ sự phát triển bền vững trong đó có đại dịch HIV/AIDS. Viện trợ nước ngoài luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong các chương trình phòng, chống HIV/AIDS.
Ðể thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam về phòng, chống HIV/AIDS, Chính phủ và cộng đồng quốc tế tại Việt Nam đã có nhiều nỗ lực và biện pháp mang tính chiến lược nhằm ứng phó một cách hiệu quả hơn với tình hình lây nhiễm chưa suy giảm ở nước ta. Tại Việt Nam, dưới sự tài trợ của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID); Bộ phát triển Vương quốc Anh (DFID), Constella Futures, tổ chức phát triển toàn cầu của tập đoàn Constella, tiến hành các Dự án với cam kết sẽ hỗ trợ Chính phủ và người dân Việt Nam đối phó với những thách thức của HIV/AIDS nhằm đạt được mục tiêu xây dựng những chính sách hợp lý, khuyến khích sự tham gia của công chúng và hỗ trợ để người nhiễm HIV/AIDS tích cực tham gia vào chương trình quốc gia đối phó với nạn dịch. Là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực y tế công, tham gia đấu thầu quốc tế để tiếp nhận, quản lý và điều hành những nguồn viện trợ từ các tổ 2 chức quốc tế, Chính phủ các nước phát triển tại các nước đang phát triển, công tác quản lý Dự án tại tổ chức Constella Futures là một phần không thể xem nhẹ. Hệ thống kiểm soát nội bộ vì vậy được coi là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý Dự án của tổ chức này.
Để góp phần nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra các biện pháp có tính khả thi nhằm tăng cường công tác quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn viện trợ tôi chọn đề tài: “Hoàn thiện Hệ thống Kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại tổ chức Constella Futures” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Mục đích nghiên cứu Việc phân tích, đánh giá vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như tình hình hoạt động kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại tổ chức Constella Futures có tác dụng: (1) hệ thống hoá các vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án; (2) đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại tổ chức Constella Futures; (3) từ đó đưa ra được những bài học kinh nghiệm trong việc quản lý Dự án sao cho có hiệu quả cao nhất, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn viện trợ, giúp cho các cơ quan quản lý, các địa phương tham gia Dự án tìm ra phương thức tốt nhất để kiểm soát được chất lượng và hiệu quả trong quá trình hoạt động của các Dự án, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả về mặt xã hội mà những Dự án này mang lại trên thực tế. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại tổ chức Constella Futures. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tại tổ chức Constella Futures ở Việt Nam.
Do người viết hiện đang công tác tại văn phòng Việt Nam nên sẽ tập 3 trung đi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án với những thủ tục quản lý và kiểm soát mà văn phòng Việt Nam hiện đang áp dụng. Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn 4 năm từ 2005-2008. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở kết hợp các phương pháp luận duy vật biện chứng cụ thể như: phương pháp khảo sát, phân tích đánh giá (phân tích định tính và phân tích thống kê), tổng hợp, diễn giải. Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp so sánh để làm sáng tỏ hơn các kết luận rút ra trong từng hoàn cảnh cụ thể; kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tế tại tổ chức này.
Cụ thể như sau: Về mặt lý luận: nghiên cứu các tài liệu, văn bản, thông tư, nghị định, sách tham khảo và các tài liệu có liên quan đến đề tài. Về mặt thực tế: khảo sát thực tế tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại đơn vị: nghiên cứu về môi trường kiểm soát, các qui chế qui định của đơn vị và nhà tài trợ, trao đổi trực tiếp với các cán bộ và chuyên gia của đơn vị. Kết cấu của đề tài Với các yêu cầu như trên, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được kết cấu theo 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại các tổ chức quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại Tổ chức Constella Futures Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý Dự án tại Tổ chức Constella Futures 4 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN TẠI CÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA) 1. Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.
Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Với những cách tiếp cận khác nhau, khái niệm quản lý được hiểu theo những cách khác nhau: quản lý là việc hoàn thành tốt mục tiêu đã định một cách rõ ràng và có hệ thống hay quản lý là quá trình nhằm đạt được kết quả bằng sự khéo léo sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Quản lý là một chuỗi các tiểu quá trình. Thuộc tính quan trọng của quản lý là: dựa vào quần chúng, chịu tác động nhiều của mức rủi ro, được đánh giá bằng kết quả và thường xuyên điều hoà sự thay đổi và sự đều đặn. Nhưng nhìn chung, quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các hướng đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Quá trình này có thể chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn định hướng và giai đoạn tổ chức thực hiện những hướng đã định. Ở giai đoạn đầu, cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu cần và có thể đạt tới, đồng thời kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu đó, xây dựng các chương trình và kế hoạch phù hợp. Sau đó, dựa trên các chương trình, kế hoạch đã được kiểm tra, chủ thể quản lý có thể đưa ra các quyết định cụ thể để thực hiện. Ở giai đoạn tổ chức thực hiện, cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, đồng thời thường xuyên kiểm tra diễn biến và kết quả của các quá trình để điều hoà các mối quan hệ, điều chỉnh các định mức và mục tiêu nhằm tối ưu hoá kết quả hoạt động.
5 Như vậy, kiểm soát được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý, là một chức năng, và cho biết mức độ sát thực của quản lý. Ở giai đoạn đầu, kiểm soát nhằm có một chương trình, kế hoạch tối ưu cho đơn vị. Ở giai đoạn thực hiện, kiểm soát là quá trình giám sát, kiểm tra các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch, đánh giá và điều chỉnh hoạt động một cách phù hợp để có thể đạt mục tiêu đề ra một cách tốt nhất. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu phải đảm bảo rằng mọi hoạt động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu tổ chức.
Người ta phân chia kiểm soát thành kiểm soát trực tiếp và kiểm soát tổng quát. Kiểm soát tổng quát là sự kiểm soát tổng thể đối với nhiều hệ thống, nhiều công việc khác nhau. Kiểm soát trực tiếp thể hiện ở các thủ tục, các quy chế kiểm soát, xây dựng trên cơ sở đánh giá các yếu tố, các bộ phận cấu thành của hệ thống quản lý. Kiểm soát bao gồm 3 loại hình cơ bản: kiểm soát hành vi, kiểm soát xử lý và kiểm soát bảo vệ.
Kiểm soát hành vi là việc kiểm soát hoạt động riêng lẻ do những nhân viên độc lập với người thực hiện hoạt động tiến hành nhằm phát hiện và ngăn chặn các gian lận, sai sót. Một hệ thống kiểm soát hành vi hữu hiệu sẽ giúp cho toàn bộ công việc kiểm soát được giảm nhẹ một cách đáng kể. Kiểm soát xử lý là kiểm soát việc nắm bắt, giải quyết các giao dịch hay những công việc mà nhờ chúng các giao dịch hay những công việc được công nhận, cho phép phân loại và tính toán, ghi chép và tổng hợp báo cáo. Kiểm soát bảo vệ là biện pháp, quy chế kiểm soát nhằm đảm bảo sự an toàn của tài sản và thông tin trong đơn vị: phân định trách nhiệm bảo vệ tài sản, hạn chế sự tiếp cận trực tiếp của người không có trách nhiệm với tài sản và sổ sách của đơn vị khi chưa được phép của người quản lý.
Như vậy có thể thấy kiểm soát là một chức năng của quản lý, gắn liền với quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm soát. Sự thiếu vắng hoạt động 6 kiểm soát thường bắt đầu từ nhà quản lý cấp cao đối với việc quản lý tổ chức. Nếu họ không xây dựng một nền tảng kiểm soát tốt thì nhiều hoạt động mới có thể nhanh chóng bị thất bại. Khái niệm kiểm soát nội bộ ra đời từ đầu thế kỷ 20, mô tả các hoạt động tự kiểm soát tại tổ chức.
Sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức gian lận với thiệt hại lớn tại các công ty đã dẫn đến sự quan tâm của xã hội đến hoạt động kiểm soát nội bộ.