Chương 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Dự án đầu tư xây dựng công trình Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13: Dự án ĐTXD là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo CTXD nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án ĐTXD, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi xây dựng hoặc Báo cáo KT-KT ĐTXD. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình a) Theo quy mô và tính chất của dự án đầu tư xây dựng công trình.
Theo quy định của Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về quản lý DAĐT XDCT, căn cứ vào tính chất và quy mô, DAĐT XDCT được phân thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C [9]. b) Theo nguồn vốn đầu tư. - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng phát triển của Nhà nước. - Dự án sử dụng vốn khác.
c) Theo các bước lập và hồ sơ dự án. - Dự án lập theo hai bước là lập báo cáo đầu tư và lập DAĐT XDCT. - Dự án lập theo một bước là DAĐT XDCT hoặc báo cáo KT-KT. Việc phân loại DAĐT XDCT có ý nghĩa quan trọng trong QLDA về thẩm quyền, trình tự và thời gian thẩm định phê duyệt dự án, về nội dung dự án, về chi phí và phân bổ vốn cho dự án (đối với dự án sử dụng vốn NSNN) 4 cũng như một số vấn đề quản lý khác như yêu cầu về năng lực hoạt động của các tổ chức và năng lực hành nghề cá nhân.
Vòng đời của dự án đầu tư xây dựng công trình. Vòng đời của DAĐT XDCT xác định theo thời điểm bắt đầu, thời hạn thực hiện dự án và thời điểm kết thúc dự án. Vòng đời của dự án bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án.TS Trịnh Quốc Thắng [21] vòng đời dự án xây dựng như sau: Giai đoạn trước dự án - Nguyên nhân làm xuất hiện dự án - Các ý tưởng ban đầu Giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng - Giai đoạn I: Chuẩn bị đầu tư - Giai đoạn II: Thực hiện đầu tư - Giai đoạn III: Kết thúc đầu tư Giai đoạn sau đầu tư - Khai thác, sử dụng - Vận hành, bảo trì Kết thúc dự án - Hết thời hạn sử dụng - Sự cố, hỏng không sử dụng được - Thanh lý tài sản (phá dỡ…) Hình: 1. Vòng đời của dự án đầu tư xây dựng công trình - Giai đoạn trước đầu tư: Đây là khoảng thời gian không xác định được và không tính vào thời gian QLDA hình thành dự án.
Nhưng đây là giai đoạn quan trọng làm xuất hiện các nguyên nhân hình thành dự án. - Giai đoạn thực hiện dự án ĐTXD: 5 + Giai đoạn I - Chuẩn bị đầu tư: Là phát triển giải pháp đề xuất mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế hoạch + Giai đoạn II - Thực hiện đầu tư: Là quá trình QLDA, thực hiện những giải pháp đã đề ra thực hiện dự án. + Giai đoạn III – Kết thúc đầu tư: Thực hiện những công việc còn lại như hoàn thành sản phẩm, bàn giao công trình và những tài liệu liên quan, đánh giá dự án. - Giai đoạn sau đầu tư: là giai đoạn khai thác, sử dụng, vận hành công trình xây dựng, bảo trì công trình - Kết thúc dự án: Khi hết thời hạn sử dụng hoặc gặp sự cố, hỏng không sử dụng được thì tiến hành cải tạo, thanh lý hoặc phá dỡ công trình GPMB.
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình QLDA đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, điều phối nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. QLDA đầu tư bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu, đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát. Các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định. - Lập kế hoạch là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống.
- Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. 6 - Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện. Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án có thể biểu diễn thành một chu trình như hình 1. Khởi xướng dự án - Xác định bản chất - Xác định phạm vi dự án Lập kế hoạch - Thiết lập mục tiêu - Dự tính nguồn lực - Xây dựng kế hoạch Giám sát và Kiểm tra Thực hiện - Đo lường kết quả - Bố trí thời gian - So sánh với mục tiêu - Điều phối nguồn lực - Điều chỉnh, giải quyết các - Phối hợp các hoạt động vấn đề phát sinh Kết thúc dự án - Đánh giá kết quả - Rút ra các bài học Hình 1.
Chu trình quản lý dự án đầu tư 1. Mục tiêu của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Mục tiêu cơ bản của QLDA đầu tư nói chung là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép. Ba mục tiêu này có quan hệ chặt chẽ với nhau có thể biểu diễn theo công thức: C = F (P,T,S) Trong đó: C - Chi phí 7 P - Mức độ hoàn thành công việc T - Yếu tố thời gian S - Phạm vi dự án Phương trình trên cho thấy chi phí là một hàm của các yếu tố mức độ hoàn thành công việc, thời gian thực hiện và phạm vi dự án. Nội dung của quản lý dự án đầu tư: a) Nội dung quản lý theo giai đoạn - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: là việc xác định bức tranh toàn cảnh về mục tiêu, kết quả cuối cùng và phương pháp thực hiện kết quả đó; phát triển giải pháp đề xuất mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế hoạch.
- Giai đoạn thực hiện dự án: Là giai đoạn QLDA, thực hiện những giải pháp đã đề ra. -Giai đoạn kết thúc dự án: Thực hiện những công việc còn lại như hoàn thành sản phẩm, bàn giao công trình và tài liệu liên quan, đánh giá dự án. b) Nội dung quản lý theo lĩnh vực Theo đối tượng quản lý, QLDA đầu tư bao gồm các lĩnh vực cần xem xét sau: - Quản lý phạm vi dự án: Là quá trình tổ chức dự án theo trình tự kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách chính xác, bao gồm cả việc quản lý các thay đổi của dự án, là việc chi tiết hóa các mục tiêu của dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương trình thực hiện những công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác của dự án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ. Mọi hoạt động của dự án phải được phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận để đạt được kết quả mong muốn.
- Quản lý thời gian (quản lý tiến độ): Là việc lập kế hoạch, phân phối và giám sát tiến độ thời gian nhằm đảm bảo thời hạn hoàn thành dự án. Nó chỉ rõ mỗi công việc phải kéo dài bao lâu, khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc và toàn bộ dự án bao giờ sẽ hoàn thành. 8 - Quản lý chi phí: Là quá trình dự toán kinh phí các nguồn lực, xác định giới hạn ngân sách, giám sát thực hiện chi phí theo tiến độ cho từng công việc và toàn bộ dự án là việc tổ chức phân tích số liệu báo cáo những thông tin về chi phí, kiểm soát đảm bảo dự án được thực hiện trong giới hạn ngân sách. - Quản lý chất lượng: Là quá trình triển khai giám sát những tiêu chuẩn chất lượng cho việc thực hiện dự án, kiểm soát đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án phải đáp ứng yêu cầu.
- Quản lý nhân lực: Là quá trình xác định nguồn nhân lực cần thiết cho công việc, xác định vai trò, trách nhiệm của từng người, từng bộ phận và các mối quan hệ, bố trí nhân lực và quản lý họ trong quá trình thực hiện dự án, đảm bảo các dòng thông tin thông suốt một cách nhanh nhất, chính xác giữa các thành viên dự án và với các cấp quản lý. - Quản lý thông tin: Là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát việc thu thập số liệu và phổ biến số liệu liên quan đến thực hiện dự án. - Quản lý rủi ro: Là việc nhận diện các nhân tố rủi ro của dự án, đo lường và phân tích rủi ro và đề ra các biện pháp đối phó cũng như quản lý từng loại rủi ro nhằm cực đại hóa rủi ro tích cực, cực tiểu hóa rủi ro tiêu cực đối với dự án. - Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán: Là quá trình xác định nhu cầu hàng hóa cần mua sắm, lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ, thương thảo ký kết và quản lý các hợp đồng cần thiết cho dự án.
Hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Theo quy định tại Điều 33, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, quy định: Người quyết định đầu tư quyết định hình thức quản lý dự án theo quy định tại khoản 2, Điều 45 của Luật Xây dựng, có hai hình thức quản lý dự án chủ yếu cụ thể như sau: 9 Hình thức chủ đầu tư trực tiếp QLDA Hình thức chủ đầu tư thuê tổ chức QLDA 1.