CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG 1.1 Khái quát tình hình xây dựng hiện nay 1.1 Tình hình xây dựng trên thế giới hiện nay Ngành Xây dựng thế giới nói chung vẫn đang trong thời gian hồi phục. Trung Quốc sắp vượt Mỹ là điểm nhấn quan trọng trong ngành Xây dựng. Theo nghiên cứu gần đây cho biết, cứ theo đà này, ngành Xây dựng sẽ tăng trưởng khoảng 4,5% mỗi năm. Phần lớn sự tăng trưởng này được tập trung và có ảnh hưởng nhiều nhất là các thị trường của Hoa Kỳ, Trung Quốc và Ấn Độ.
Do cuộc cạnh tranh khốc liệc hiện nay của thị trường vốn từ Trung Quốc, các nước châu Á là mục tiêu hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Trong khi đó, các Công ty xây dựng châu Âu và Mỹ chuyển trọng tâm của họ tới thị trường châu Phi và Trung Đông. Ở châu Âu hiện nay,có xu hướng tới xây dựng bền vững. Đặc biệt là Vương quốc Anh - là quốc gia có lợi nhuận thị trường xây dựng lớn thứ ba trên thế giới, các nhà đầu tư tiềm năng của Trung Quốc và Trung Đông tập trung nguồn lực vào bất động sản tại đây.
Khả năng đến năm 2025, ngành xây dựng Anh quốc có tỷ lệ tăng gấp đôi tỷ lệ trung bình của Tây Âu. Tuy nhiên, doanh số bán trong ngành xây dựng chủ yếu là cơ sở hạ tầng từ các dự án của Chính phủ. Có thể nói rằng, yếu tố quan trọng của thành công ngành Xây dựng Anh quốc là do năng lực quản lý các dự án lớn. Ở châu Á, do cuộc cạnh tranh khốc liệt với nền kinh tế Trung Quốc hiện nay - một thị trường mới nổi - vì thế những quốc gia nhỏ hơn cũng sẽ trở thành quan trọng cho đầu tư xây dựng.
Theo các số liệu nghiên cứu cho biết, Indonesia, Việt Nam và Philippines - là những quốc gia có thể dành được sự tập trung của nhiều nhà đầu tư phát triển. Hơn 50% các Công ty xây dựng lớn trên thế giới đã bắt đầu thâm nhập các thị trường này. Mặc dầu yếu tố chính trị có thể phần nào ảnh hưởng đến tình hình phát triển xây dựng ở một số quốc gia châu Á, nhưng các dự báo về mặt trung hạn cho thấy, đến năm 2020, thị trường hấp dấn nhất ở châu Á sẽ là các quốc gia Indonesia và Philippines. 4 Các nhà đầu tư rất lạc quan về hai thị trường này và họ đã theo dõi, khảo sát trước đó và tiên đoán về sự phát triển vượt bậc.
Với những ưu đãi về lãi suất, sự phát triển của ngành xây dựng đến 2020 rất khả quan.2 Tình hình xây dựng tại Việt Nam hiện nay Đối với lĩnh vực xây dựng dân dụng: Tình hình kinh tế nước ta ngày càng được cải thiện, cùng với sự hỗ trợ của chính phủ từ việc hạ lãi suất cơ bản và các chính sách kích cầu. Tình hình thị trường BĐS đã bắt đầu ấm lên vào thời điểm cuối năm 2014 và dự báo xu hướng này sẽ tiếp tục trong những năm tới. Do đó, các công ty Bất Động Sản hiện tại đã và đang triển khai các dự án lớn như Vinhome Tân Cảng, Đại Quang Minh và một số dự án đang khởi động như dự án Lotte Smart Complex (2 tỷ USD), Amata City – Long Thành (530 triệu USD) và Hà Nội West Gate – Kepple Land (140 triệu USD). Đối với lĩnh vực xây Dựng Công Nghiệp: lượng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp sản xuất luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn FDI (40-50%), tương đương với lượng giải ngân trung bình 4-5 tỷ USD/năm.
Trong năm 2014, một số dự án công nghiệp quan trọng được triển khai bao gồm dự án Samsung CE Complex tại Khu Công Nghệ Cao HCM (1,4 tỷ USD), dự án của Samsung Display tai Bắc Ninh (1 tỷ USD) và dự án của công ty Texhong Ngân Hà tại Quảng Ninh (300 triệu USD). Trong năm 2015, các doanh nghiệp FDI dự kiến sẽ tiếp tục triển khai nhiều dự án quan trọng như dự án mở rộng nhà máy LG (2 tỷ USD) và dự án Wintek mở rộng ở Bắc Giang (1,12 tỷ USD). Đối với lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng: Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 40% số lượng đường bộ trong hệ thống giao thông có chất lượng thấp và rất thấp. Do đó, lượng vốn ước tính cần cho việc nâng cấp hệ thống đường bộ sẽ đạt 48-60 tỷ USD cho đến năm 2020, tương đương với nhu cầu đầu tư hàng năm vào khoảng 202.3 Tình hình xây dựng tại Vĩnh Phúc 6 tháng đầu năm 2017, nhằm đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án nhất là các công trình, dự án phải hoàn thành trong năm nay.
Dự kiến tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã 5 hội trên địa bàn 6 tháng đầu năm thực hiện đạt 11.206 tỷ đồng tăng 10,35% so với cùng kỳ. Trong đó, nguồn vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện 2.896 tỷ đồng chiếm 25,84% tổng vốn và tăng 19,27% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước thực hiện 5.463 tỷ đồng, chiếm 48,74% và tăng 6,50%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2.848 tỷ đồng, chiếm 25,42% và tăng 9,59%. Về công tác xúc tiến đầu tư: UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư năm 2017, trong đó đã tổ chức thành công các cuộc xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp; xây dựng 2 chương trình xúc tiến đầu tư tại Châu Âu, Ấn Độ, Nam Phi và UAE. Đồng thời, các đồng chí lãnh đạo tỉnh đã tiếp và làm việc với một số nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu môi trường đầu tư tại tỉnh.
Các cơ quan tham mưu đã liên hệ với đầu mối tổ chức KCCI, KOTRA, JETRO, JICA và đề nghị hỗ trợ chương trình xúc tiến đầu tư của tỉnh năm 2017. Kết quả thu hút đầu tư: Tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư mới cho 36 dự án, trong đó có 20 dự án FDI với số vốn đăng ký 47,24 triệu USD và 16 dự án DDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 406,15 tỷ đồng. Luỹ kế, tổng số dự án còn hiệu lực trên địa bàn tỉnh là 904 dự án, gồm 664 dự án DDI với tổng vốn đầu tư 67,44 nghìn tỷ đồng (vốn thực hiện đạt 31,7% vốn đăng ký) và 244 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 3,696 tỷ USD (vốn thực hiện đạt 61,4% vốn đăng ký).2 Tổng quan về quản lý chất lượng, chất lượng công trình và quản lý chất lượng công trình 1.1 Khái niệm chất lượng và tầm quan trọng của chất lượng 1.1Khái niệm Chúng ta đã làm quen với khái niệm chất lượng từ rất lâu. Nhưng ở giai đoạn nền kinh tế tập trung, mọi người chưa quan tâm nhiều tới chất lượng.
Khi nền kinh tế phát triển như hiện nay, vấn đề chất lượng ngày càng được đông đảo sự quan tâm. Mặt khác cũng gây không ít sự tranh cãi về khái niệm chất lượng. Mỗi góc độ khác nhau sẽ có những quan điểm hay khái niệm về chất lượng khác nhau: - Góc độ người tiêu dùng: “Chất lượng là sự phù hợp với mong muốn của họ”. 6 Chất lượng sản phẩm hay dịch vụ phải thể hiện các khía cạnh sau: + Thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó; + Thể hiện cùng chi phí; + Gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể.
- Góc độ nhà sản xuất: “Chất lượng là sản phẩm hay dịch vụ phải đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra”; - Góc độ chuyên gia K.Ishikawa: “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” ; - Góc độ Tiêu chuẩn ISO 9001:2008: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng yêu cầu”, trong đó: + Đặc tính vốn có: là những đặc trưng tồn tại trong cái gì đó đặc biệt, bền vững theo thời gian; + Yêu cầu: là nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng như trên, nhưng trong những năm gần đây khái niệm chất lượng được thống nhất sử dụng rộng rãi là định nghĩa trong bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO. Do vậy, có thể nói chất lượng là sự thỏa mãn yêu cầu trên tất cả mọi mặt: tính năng kỹ thuật, tính kinh tế, thời gian giao hàng, các dịch vụ liên quan và tính an toàn.2Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm Về nội dung này, Tiến Sĩ J. Juran, một chuyên gia nổi tiếng về chất lượng của Mỹ đã khẳng định “Chất lượng và cạnh tranh là những vấn đề phải đặc biệt chú ý trong thế kỉ 21 - thế kỉ chất lượng”, qua đó đã thể hiện tầm quan trọng của chất lượng trong nền kinh tế hiện nay: - Chất lượng là sự sống còn của doanh nghiệp: hàng rào thuế quan dần dần được tháo gỡ, các doanh nghiệp trong và ngoài nước tự do cạnh tranh, khách hàng có quyền lựa chọn sản phẩm chất lượng, giá cả phù hợp từ mọi nơi trên thế giới.
Chúng ta có thể thấy được chất lượng trở thành chiến lược lâu dài và quan trọng của doanh nghiệp; 7 - Chất lượng là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sinh lời của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì doanh nghiệp nào cung cấp được sản phẩm, dịch vụ đạt chất lượng sẽ đạt mức lợi nhuận cao, mọi người tin dùng, và ngược lại; - Nâng cao uy tín và tạo được thương hiệu nhờ khẳng định vị thế của mình trên thị trường thông qua chất lượng.2 Tổng quan về quản lý chất lượng 1.1Quá trình phát triển Qua các thời kỳ phát triển, nhận thức về quản lý chất lượng cũng không ngừng hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới. Đến nay, quá trình hình thành và phát triển của quản lý chất lượng được chia thành 05 giai đoạn như Hình 1.1 sau đây: Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển của quản lý chất lượng Giai đoạn 1: Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection - QI) Sản phẩm sản xuất ra trước khi đưa ra thị trường sẽ được kiểm tra và loại bỏ các sản phẩm không đạt yêu cầu, các sản phẩm hư hỏng. Trong doanh nghiệp Việt Nam, hoạt động này được gọi là KCS (kiểm tra chất lượng sản phẩm).
8 Như vậy, KCS chính là màng lọc ngăn không cho các sản phẩm xấu ra thị trường chứ không làm tăng chất lượng sản phẩm hay giảm số lượng các sản phẩm hư hỏng. Thêm vào đó, công việc kiểm tra này phụ thuộc vào sự chủ quan của nhân viên KCS, tính chất của hàng hoá, và có nhiều sản phẩm không thể kiểm tra được nhất là các sản phẩm phục vụ quốc phòng.