phần mở đầu, kết luận kiến nghị, Luận văn đƣợc kết cấu với 3 chƣơng nội dung chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan về dự án đầu tƣ xây dựng công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chƣơng 3: Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng tại Công ty Cổ phần Đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 1 1 Ổ Q Ề XÂY Ỹ Ậ 1. Khái ni d u tư xây d ng công trình 1. Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian xác định với sự ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. [1] Các công việc trong dự án phụ thuộc vào nhau.
Để đáp ứng đƣợc mục đích là sự thảnh công của dự án, các công việc phải đƣợc phối hợp và kiểm soát. Sự phối hợp các công việc trong dự án phải chịu sự ràng buộc trong khoảng thời gian nhất định. Các công việc và tổng thể các công việc của dự án cần đƣợc thực hiện trong một thời hạn xác định. Điều này cho thấy dự án có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc.
Các nguồn lực để thực hiện dự án là giới hạn. M i dự án thƣờng tiêu phí các nguồn lực. Các nguồn lực này càng bị ràng buộc chặt chẽ sẽ giúp cho chi phí cũng nhƣ thời gian thực hiện dự án luôn bị hạn chế. Nhƣ vậy, dự án có các đặc điểm chung nhất, đó là: - Bị ràng buộc bởi các nguồn lực: con ngƣời, tài nguyên; - Đƣợc hoạch định, đƣợc thực hiện và đƣợc kiểm soát; - Các dự án đều đƣợc thực hiện bởi con ngƣời.
c c trư của d [2] ất cứ dự án nào cũng đều phải có kết quả đƣợc xác định rõ ràng. M i dự án bao gồm tập hợp các nhiệm vụ đơn nhất kế tiếp nhau cần thực hiện, m i nhiệm vụ này khi thực hiện sẽ thu đƣợc kết quả độc lập và tập hợp các kết quả đó tạo thành kết quả chung của dự án. ứ ả ứ ả Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của 2 chủ đầu tƣ mà các bên tham gia dự án có thể cũng khác nhau. M i dự án luôn có sự tham gia của nhiều bên hữu quan nhƣ chủ đầu tƣ, ngƣời hƣởng thụ dự án, các nhà tƣ vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nƣớc… iữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thƣờng xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhƣng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.
Thời gian tồn t i c a d án có tính Dự án là một sự sáng tạo. Dự án trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển và hoàn thành, kết thúc. Nó không kéo dài mãi mãi, khi dự án kết thúc hoàn thành kết quả dự án sẽ đƣợc chuyển giao, đƣa vào khai thác sử dụng, tổ chức quản lý dự án sẽ tự giải tán. ở ồ M i dự án cần d ng một nguồn lực nhất định để thực hiện.
ao gồm: nhân lực, vật lực và tài nguyên cũng nhƣ các yêu cầu về tính năng của sản phẩm dịch vụ, yêu cầu về chức năng của công trình, các chỉ tiêu kỹ thuật, các định mức về chất lƣợng sản phẩm hoặc dịch vụ, thời hạn bàn giao. Hầu hết các dự án đòi h i quy mô tiền vốn, vật tƣ và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian tƣơng đối dài. Mặt khác, thời gian đầu tƣ và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tƣ phát triển thƣờng có độ rủi ro cao. ả Dự án phải có tính mới, thể hiện sức sáng tạo của con ngƣời.
Do đó, sản phẩm và dịch vụ thu đƣợc từ dự án là duy nhất, khác biệt với các sản phẩm cùng loại. M i dự án đều là nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn. C ng với sự kết thúc hợp đồng và bàn giao kết quả thì dự án cũng kết thúc, vì vậy dự án không phải là nhiệm vụ lặp đi lặp lại và là công việc có kết thúc. Chu trình d u tư x y d ng Chu trình dự án đầu tƣ xây dựng là các công việc, các giai đoạn mà một dự án xây dựng phải trải qua kể từ khi hình thành ý tƣởng cho đến khi kết thúc dự án, gắn liền với quá trình đầu tƣ và xây dựng công trình.
Một cách khái quát, chu trình dự án xây dựng bao gồm 3 giai đoạn cơ bản là: chuẩn bị đầu tƣ (Chuẩn bị dự án), thực hiện đầu tƣ và kết thúc xây dựng đƣa dự án vào khai thác. Chu trình d u tư x y d ng [3] 1. d u tư xây d ng công trình Tùy theo các mục đích nghiên cứu và quản lý khác nhau mà ngƣời ta có các tiêu chí phân loại dự án khác nhau, cụ thể: Theo quy mô và tính chất, gồm có: 4 - Theo văn bản luật hiện hành (Nghị định số 12/2009/NĐ-BXD ngày 12/02/2009) về quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình, các dự án đầu tƣ xây dựng công trình đƣợc phân loại nhƣ sau: - Theo quy mô và tính chất, gồm có: (1) Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trƣơng đầu tƣ; (2) Các dự án còn lại đƣợc phân thành 3 nhóm A, B, C. - Theo nguồn vốn đầu tƣ, gồm có: (1) Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc; (2) Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nƣớc bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc; (3) Dự án sử dụng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI; (4) Dự án sử dụng vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc; (5)Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tƣ nhân hoặc sử dụng h n hợp nhiều nguồn vốn; - Theo thời gian đầu tƣ, gồm có: (1) Dự án dài hạn: Thời hạn > 5 năm; (2) Dự án trung hạn: Thời hạn 3 - 5 năm; (3) Dự án ngắn hạn: Thời hạn 1 - 2 năm.
ổ qua về cô trì cơ sở t kỹ t uật 1. Khái ni m về công trình cơ sở h t ng kỹ thuật (CSHTKT): Theo Luật đầu tƣ số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì Dự án đầu tƣ là tập hợp đề xuất b vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tƣ là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tƣ và cho xã hội. Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014 thì: “ ph xu n vi c sử d ng v ti n hành ho ng xây d xây d ng m i, sửa ch a, cải t o công trình xây d ng nhằm phát tri n, duy trì, nâng cao ch ng công trình hoặc sản ph m, d ch v trong thời h nh.
Ở n chu n b d án ng, d c th hi n thông qua Báo cáo nghiên cứu ti n khả thi 5 ng, Báo cáo nghiên cứu khả ng hoặc Báo cáo kinh t - kỹ thu ” Nhƣ vậy dự án đầu tƣ có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Về mặt nội dung, dự án đầu tƣ là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau đƣợc kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Trên góc độ quản lý, dự án đầu tƣ là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tƣ là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tƣ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ.
Từ định nghĩa về dự án đầu tƣ xây dựng công trình nói chung, ta có thể hiểu khái về dự án đầu tƣ xây dựng công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhƣ sau: “ ng công trình ở h t ng kỹ thu t là t p h xu t n vi c b v xây d ng m i, mở r ng hoặc cải t o nh ng công trình xây d ng ở h t ng kỹ thu t nhằm m n, duy trì, nâng cao ch ng các công trình và d ch v kỹ th t trong m t thời h n nh nh. V n i dung d án bao gồm ph n thuy t minh và ph n thi t k ở” 1. Vai trò của cô trì cơ sở h t ng kỹ thuật: Một trong các yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển và thành công của nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội đó chính là các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Sự phát triển và hiện đại hoá các lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển của các khu đô thị, các điểm dân cƣ nói chung.
Quy hoạch phát triển không gian chỉ có thể đƣợc thực hiện hiệu quả khi các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đƣợc xây dựng đồng bộ và đi trƣớc, theo đúng quy hoạch. Vì thế, việc đầu 6 tƣ xây dựng, nâng cấp, cải tạo và quản lý sử dụng tốt các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẽ góp phần nâng cao chất lƣợng phát triển các khu đô thị, các điểm dân cƣ, tạo nên đƣợc các không gian đáp ứng tốt nhất các nhu cầu sử dụng cho con ngƣời cả về vật chất và tinh thần. Chính vì thế chúng ta cần quan tâm tới việc xây dựng hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, nhất là trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nƣớc ta hiện nay.