CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, nền công nghệ thông tin của nước ta cũng đã có phát triển trên mọi lĩnh vực trong cuộc sống cũng như trong lĩnh vực quản lý xã hội khác. Một trong những lĩnh vực mà máy tính được sử dụng nhiều nhất là các hệ thống thông tin quản lý nói chung. Tuy nhiên, hiện nay do quy mô, tính phức tạp của công việc ngày càng cao nên việc xây dựng hệ thống thông tin quản lý không chỉ là việc lập trình đơn giản mà phải xây dựng một cách có hệ thống. Lý do chọn đề tài Quản lý đồ án tốt nghiệp sinh viên là một yêu cầu thiết yếu của mỗi trường cao đẳng, đại học (CĐ – ĐH).
Để có thể quản lý và lưu trữ có hiệu quả là điều không đơn giản. Việc này đòi hỏi kỹ năng của người quản lý, làm sao để có thể kiểm soát được số lượng sinh viên thực hiện đồ án, đề tài của các khóa, các hệ đào tạo khác nhau,… quả thực là một vấn đề nan giải. Việc quản lý đồ án tốt nghiệp của sinh viên trước đây chủ yếu sử dụng phương pháp thủ công trên giấy tờ gây cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích lưu trữ, việc tìm kiếm mất rất nhiều thời gian và công sức mà hiệu quả công việc đem lại không cao đôi khi còn xảy ra sai sót mất mát dữ liệu không đáng có. Hiện nay, công tác quản lý đồ án tốt nghiệp sinh viên tại nhiều trường CĐ – ĐH đạt hiệu quả chưa cao.
Do đó việc đòi hỏi có một phần mềm chuyên dụng trợ giúp cho công việc quản lý và lưu trữ thông tin đồ án tốt nghiệp sinh viên là một nhu cầu tất yếu để đảm bảo hiệu quả và tiết kiệm thời gian trong công việc. 2 Là sinh viên được trang bị kiến thức ngành công nghệ thông tin, với những kiến thức đã được tiếp thu và thực tế yêu cầu, chúng em nhận thấy cần phải xây dựng một hệ thống quản lý đồ án tốt nghiệp, có thể ứng dụng trực tiếp trong khoa tại các trường CĐ – ĐH. Được sự đồng ý và trực tiếp hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Tâm, em đã thực hiện đề tài “Xây dựng phần mềm quản lý đồ án tốt nghiệp”. Mục tiêu đề tài Nghiên cứu các quy trình trong công tác quản lý đồ án tốt nghiệp bao gồm các thông tin trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp của sinh viên nhằm phục vụ cho việc lưu trữ, tìm kiếm, truy xuất dữ liệu, đưa ra báo cáo thống kê theo từng giai đoạn trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Thông qua việc phân tích, thiết kế và xây dựng, với mục tiêu chính hạn chế tối đa việc lưu trữ thủ công, hỗ trợ cán bộ, giảng viên quản lý đồ án tốt nghiệp của sinh viên, phần mềm sau khi hoàn thành cần phải đáp ứng tối thiểu các chức năng phục cho quy trình quản lý đồ án tốt nghiệp bao gồm: - Quản lý các dữ liệu đầu vào bao gồm các danh mục: khoa, lớp, sinh viên, cán bộ, giảng viên, năm học, học kỳ. - Quản lý các dữ liệu trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp của sinh viên dựa vào các thông tin mà sinh viên đã đăng ký đề tài, đăng ký giảng viên hướng dẫn. Quản lý các thông tin về hội đồng đánh giá đề tài, việc phân công giảng viên trong hội đồng, phân công giảng viên phản biện đề tài và điểm của từng sinh viên theo đề tài sinh viên thực hiện sau khi bảo vệ đồ án. - Đưa ra các báo cáo, thống kê theo từng quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp như các báo cáo, thống kê về sinh viên thực hiệc đề tài, phân công 3 giảng viên hướng dẫn hay phản biện đề tài; danh sách hội đồng đánh giá, điểm đồ án của sinh viên, thống kê và phân loại đồ án theo điểm đồ án.
Phạm vi đề tài - Đối tượng nghiên cứu: Các quy trình trong việc quản lý và lưu trữ thông tin đồ án tốt nghiệp của sinh viên. - Phạm vi thực hiện: Phần mềm sau khi xây dựng xong có thể áp dụng trong công tác quản lý đồ án tốt nghiệp của sinh viên tại các trường CĐ – ĐH. 4 CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ SỬ DỤNG 2. Ngôn ngữ SQL và hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 2.
Giới thiệu về ngôn ngữ SQL Ngôn ngữ truy vấn dữ liệu (SQL – Structured Query Language) là một loại ngôn ngữ máy tính phổ biến để tạo, sửa, xóa và lấy dữ liệu từ một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ. Nó là ngôn ngữ chuẩn ANSI/ISO để truy cập cơ sở dữ liệu. SQL là một công cụ quản lý dữ liệu được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực. Trong việc phân tích, xử lý dữ liệu, SQL luôn luôn tỏ ra là một ngôn ngữ đơn giản mà vô cùng hiệu quả.
Tất cả các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như: MySQL, Oracle, Microsoft Access, Sybase, Informix, Postgres và SQL Server đều sử dụng SQL là ngôn ngữ cơ sở dữ liệu chuẩn. SQL được sử dụng để điều khiển tất cả các chức năng mà một hệ quản trị cơ sở dữ liệu cung cấp cho người dùng bao gồm: - Định nghĩa dữ liệu: SQL cung cấp khả năng định nghĩa các cơ sở dữ liệu, các cấu trúc lưu trữ và tổ chức dữ liệu cũng như mối quan hệ giữa các thành phần dữ liệu.[1] - Truy xuất và thao tác dữ liệu: Với SQL, người dùng có thể dễ dàng thực hiện các thao tác truy xuất, bổ sung, cập nhật và loại bỏ dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu.[1] 5 - Điều khiển truy cập: SQL có thể được sử dụng để cấp phát và kiểm soát các thao tác của người sử dụng trên dữ liệu, đảm bảo sự an toàn cho cơ sở dữ liệu.[1] - Đảm bảo toàn vẹn dữ liệu: SQL định nghĩa các ràng buộc toàn vẹn trong cơ sở dữ liệu nhờ đó đảm bảo tính hợp lệ và chính xác của dữ liệu trước các thao tác cập nhật cũng như các lỗi của hệ thống.[1] SQL là một ngôn ngữ hoàn thiện được sử dụng trong các hệ thống cơ sở dữ liệu, nó không phải là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu, nó không thể tồn tại độc lập nhưng nó là là một thành phần không thể thiếu trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Nó xuất hiện trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu với vai trò ngôn ngữ và là công cụ giao tiếp giữa người sử dụng và hệ quản trị cơ sở dữ liệu.[1] Trong hầu hết các hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ, SQL có những vai trò như sau: - SQL là ngôn ngữ hỏi có tính tương tác: Người sử dụng có thể dễ dàng thông qua các trình tiện ích để gửi các yêu cầu dưới dạng các câu lệnh SQL đến cơ sở dữ liệu và nhận kết quả trả về từ cơ sở dữ liệu.[1] - SQL là ngôn ngữ lập trình cơ sở dữ liệu: Các lập trình viên có thể nhúng các câu lệnh SQL vào trong các ngôn ngữ lập trình để xây dựng nên các chương trình ứng dụng giao tiếp với cơ sở dữ liệu.[1] - SQL là ngôn ngữ quản trị cơ sở dữ liệu: Thông qua SQL, người quản trị cơ sở dữ liệu có thể quản lý được cơ sở dữ liệu, định nghĩa các cấu trúc lưu trữ dữ liệu, điều khiển truy cập cơ sở dữ liệu,.[1] - SQL là ngôn ngữ cho các hệ thống khách/chủ (Client/Server): Trong các hệ thống cơ sở dữ liệu khách/chủ, SQL được sử dụng như là công cụ để giao tiếp giữa các trình ứng dụng phía máy khách với máy chủ cơ sở dữ liệu.[1] 6 - SQL là ngôn ngữ truy cập dữ liệu trên Internet: Cho đến nay, hầu hết các máy chủ Web cũng như các máy chủ trên Internet sử dụng SQL với vai trò là ngôn ngữ để tương tác với dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu.[1] - SQL là ngôn ngữ cơ sở dữ liệu phân tán: Đối với các hệ quản trị cơ sở dữ liệu phân tán, mỗi một hệ thống sử dụng SQL để giao tiếp với các hệ thống khác trên mạng, gửi và nhận các yêu cầu truy xuất dữ liệu với nhau.[1] - SQL là ngôn ngữ sử dụng cho các cổng giao tiếp cơ sở dữ liệu: Trong một hệ thống mạng máy tính với nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau, SQL thường được sử dụng như là một chuẩn ngôn ngữ để giao tiếp giữa các hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Giới thiệu về hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server Một cơ sở dữ liệu (Database): là một kho dữ liệu được tổ chức theo một nguyên tắc nào đó.
Đó là một tập hợp các tập tin có liên quan với nhau, được thiết kế nhằm làm giảm thiểu sự dư thừa dữ liệu, đảm bảo tính tin cậy khi truy xuất dữ liệu. Các tập tin này chứa các thông tin biểu diễn các đối tượng trong một ứng dụng thế giới thực.[3] Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS – Database Management System): là một hệ thống gồm một cơ sở dữ liệu và các thao tác trên cơ sở dữ liệu đó. Đó là hệ thống chương trình, công cụ cho phép quản lý và tương tác với cơ sở dữ liệu. Trên đó người dùng có thể định nghĩa, thao tác, và xử lý dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu để xuất ra những thông tin có nghĩa.
7 - Tạo ra và duy trì cơ sở dữ liệu[3]. - Cho phép nhiều người dùng truy xuất đồng thời[3]. - Hỗ trợ tính bảo mật và riêng tư[3]. - Cho phép xem và xử lý dữ liệu lưu trữ[3].
- Cho phép cập nhật và lưu trữ dữ liệu sau khi cập nhật[3]. - Cung cấp một cơ chế chỉ mục hiệu quả để truy cập nhanh các dữ liệu lựa chọn[3]. - Cung cấp tính nhất quán giữa các bản ghi khác nhau[3]. - Bảo vệ dữ liệu khỏi mất mát bằng các quá trình sao lưu và phục hồi[3].
SQL Server đã ra đời và trở thành một hệ quản trị cơ sở dữ liệu được sử dụng rộng rãi, phổ biến bởi sự đơn giản, dễ dùng và còn bởi nhiều tính năng mà nó mang lại cho người sử dụng. SQL Server là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ (RDBMS – Relational Database Management System) sử dụng câu lệnh SQL (Transact – SQL) để trao đổi dữ liệu giữa máy Client và máy cài SQL Server. Một RDBMS bao gồm: Databases, Database Engine và các ứng dụng dùng để quản lý dữ liệu và các bộ phận khác nhau trong RDBMS[4].