Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự tồn tại của cá nhân với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự tương ứng. Trong đời sống xã hội, nhiều trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh hoặc nguyên nhân cá nhân dẫn đến việc một người vắng mặt khỏi nơi cư trú trong thời gian dài mà không xác định được còn sống hay đã chết. Tình trạng này làm gián đoạn các quan hệ pháp luật, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan trong quan hệ nhân thân, tài sản, hôn nhân gia đình và thừa kế.
Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ra đời, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 chưa tách bạch giữa việc dân sự và vụ án dân sự, dẫn tới thực tế Tòa án giải quyết việc tuyên bố một người đã chết trong cùng một vụ án chia thừa kế ("hai vụ án trong một vụ án"). Việc chia di sản của người bị yêu cầu tuyên bố đã chết khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật đã tạo ra lỗ hổng pháp lý là phân chia tài sản của người chưa chắc chắn chết về mặt sinh học. Mặc dù BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và BLTTDS năm 2015 đã quy định việc tuyên bố mất tích hoặc đã chết theo thủ tục giải quyết việc dân sự riêng biệt, thực tiễn áp dụng vẫn nảy sinh nhiều vướng mắc: khả năng tuyên bố mất tích hoặc đã chết đối với người đang bị truy nã; cách thức xác định chính xác ngày chết của cá nhân; việc xác định tư cách đương sự; cũng như quan điểm chưa thống nhất về việc giải quyết đồng thời yêu cầu ly hôn và yêu cầu tuyên bố mất tích/chết trong cùng một vụ việc.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết từ phương diện lý luận đến pháp luật thực định, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật. Đề tài xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa).
- Làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết thông qua việc phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những kết quả đạt được cùng những tồn tại, hạn chế cần khắc phục.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục giải quyết yêu cầu, bao gồm kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, hệ thống quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn giải quyết loại việc này tại Tòa án. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào phương diện lý luận, hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và số liệu thực tiễn áp dụng trong những năm gần đây; do giới hạn thời gian thực hiện, tác giả giới hạn phạm vi khảo sát ở giai đoạn sơ thẩm tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống lập luận dựa trên khung lý thuyết về việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự trong luật tố tụng dân sự. Về cơ sở pháp lý, tác giả sử dụng các văn bản quy phạm pháp luật thực định và văn bản hướng dẫn áp dụng:
- Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 (đặc biệt là Điều 68 về tuyên bố mất tích, Điều 71 về tuyên bố đã chết, Điều 147 về cách tính thời hạn).
- Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 (các Điều 27, 35, 39 về thẩm quyền; Điều 312 về hình thức đơn; Điều 361 đến 370 về thủ tục chung giải quyết việc dân sự; các Điều 388, 389 về tuyên bố mất tích; các Điều 392, 394 về tuyên bố đã chết và hủy bỏ quyết định).
- Hệ thống văn bản lịch sử: Sắc lệnh số 47-SL; Thông tư số 03-NCLP ngày 03/03/1966 của TAND Tối cao; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; BLDS các năm 1995, 2005; BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
- Các nghị quyết, thông tư hướng dẫn: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành biểu mẫu giải quyết việc dân sự (Mẫu số 22-VDS); Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP về biện pháp khẩn cấp tạm thời; Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC; Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC giải đáp nghiệp vụ.
Về phương pháp luận, đề tài dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, phương pháp luận Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và bình luận quy phạm pháp luật: sử dụng để làm rõ các khái niệm, quy định của BLTTDS năm 2015, phân tích các quan điểm khoa học pháp lý nhằm đưa ra nhận định của tác giả.
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết: dùng để xâu chuỗi tiến trình lập pháp qua các thời kỳ và khái quát thực tiễn áp dụng thủ tục tại Tòa án.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ:
- Sổ thụ lý và Báo cáo công tác giải quyết các vụ việc dân sự các năm 2017, 2018, 2019 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Số liệu thống kê thụ lý giải quyết việc dân sự năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2023/QĐST-DS ngày 22/03/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết
Chương 1 phân tích các khái niệm nền tảng: "tuyên bố mất tích" và "tuyên bố đã chết" là việc Tòa án có thẩm quyền, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, ra quyết định công nhận một cá nhân vắng mặt tại nơi cư trú trong một thời gian luật định mà không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết. Thủ tục này mang bản chất của việc dân sự với bốn đặc điểm:
- Chỉ áp dụng đối với cá nhân.
- Không có sự đối kháng về mặt lợi ích giữa các bên đương sự (không có nguyên đơn và bị đơn, chỉ có người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
- Không áp dụng nguyên tắc hòa giải và nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử; việc giải quyết chỉ do một Thẩm phán tiến hành.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp bắt buộc phải tham gia phiên họp nhằm đảm bảo tính khách quan và giám sát việc tuân theo pháp luật.
Về mặt ý nghĩa, thủ tục là căn cứ pháp lý để mở lối thoát cho các quan hệ xã hội bị ách tắc (nhân thân, tài sản, hôn nhân gia đình), đồng thời hỗ trợ quản lý nhân khẩu, hộ tịch và nâng cao trách nhiệm xét xử của Thẩm phán. Cơ sở xác lập thủ tục bắt nguồn từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, cũng như đòi hỏi thực tiễn phải tách bạch tuyệt đối việc dân sự khỏi vụ án dân sự để tránh việc chia di sản của người chưa chết về mặt sinh học.
Tiến trình lập pháp Việt Nam được chia thành 5 giai đoạn:
- Trước năm 1945: Thời phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ) chưa có thủ tục riêng. Thời Pháp thuộc, Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật năm 1936 (các Điều 58, 59, 60) lần đầu ghi nhận việc "tuyên cáo thất tung" nếu vắng mặt quá 2 năm không có tin tức.
- Giai đoạn 1945 - 1989: Sắc lệnh số 47-SL cho phép tạm áp dụng luật cũ nếu không trái nguyên tắc độc lập. Thông tư số 03-NCLP ngày 03/03/1966 của TAND Tối cao gián tiếp đề cập việc xử lý vợ/chồng vắng mặt không rõ tin tức từ 2 năm trở lên khi giải quyết ly hôn.
- Giai đoạn 1989 - 2005: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 và Nghị quyết số 03/HĐTP quy định thẩm quyền của TAND cấp huyện nhưng áp dụng quy trình thụ lý như một vụ án dân sự. BLDS năm 1995 xác lập quyền yêu cầu tại Điều 88 và Điều 91.
- Giai đoạn 2005 - 2015: BLDS năm 2005 (Điều 78, 81) và BLTTDS năm 2004 chính thức tách việc dân sự thành thủ tục riêng, chấm dứt việc gộp chung vào vụ án ly hôn hay chia thừa kế.
- Giai đoạn 2015 đến nay: BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 hoàn thiện quy định, kéo dài thời hạn biệt tích sau tai nạn/thảm họa lên 02 năm và bổ sung trách nhiệm gửi quyết định cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng để ghi chú hộ tịch.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thủ tục tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết
Chương 2 phân tích trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết đơn yêu cầu theo BLTTDS năm 2015:
- Nộp đơn và thụ lý đơn: Đơn yêu cầu phải đáp ứng các nội dung luật định tại Điều 312 BLTTDS năm 2015, kèm tài liệu chứng minh tình trạng biệt tích (xác nhận của công an/chính quyền địa phương, hóa đơn đăng báo, phát sóng tìm kiếm). Người yêu cầu phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự và có quyền, lợi ích liên quan. Điều kiện thời gian luật định: đối với tuyên bố mất tích là biệt tích 02 năm liên tục trở lên; đối với tuyên bố đã chết gồm 4 trường hợp (sau 03 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực; biệt tích 05 năm sau khi chiến tranh kết thúc; sau 02 năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, thảm họa, thiên tai; biệt tích 05 năm liền trở lên). Thẩm quyền theo cấp thuộc TAND cấp huyện (khoản 2 Điều 35); thẩm quyền lãnh thổ thuộc Tòa án nơi người bị yêu cầu cư trú cuối cùng (Điều 39). Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận thông báo, người yêu cầu phải nộp tạm ứng lệ phí 300.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Tòa án thông báo thụ lý bằng văn bản trong 03 ngày làm việc.
- Chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý (Điều 388, Điều 392), Tòa án phải ra quyết định thông báo tìm kiếm (ngắn hơn thời hạn chuẩn bị việc dân sự chung là 01 tháng). Thời hạn thông báo tìm kiếm là 04 tháng kể từ ngày đăng, phát lần đầu tiên: phải đăng trên một báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án/UBND cấp tỉnh và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc truyền hình trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Chi phí đăng phát do người yêu cầu chi trả. Trong giai đoạn này, Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ (nếu người yêu cầu rút đơn hoặc người biệt tích trở về), tạm đình chỉ, hoặc ra quyết định mở phiên họp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn thông báo tìm kiếm.
- Phiên họp và quyết định: Phiên họp do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của Kiểm sát viên. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp (quy định mới tại Điều 367 BLTTDS năm 2015 nhằm tránh trì hoãn tố tụng). Nếu người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất không có lý do thì hoãn phiên họp, vắng mặt lần thứ hai thì đình chỉ giải quyết. Quyết định giải quyết ban hành theo Mẫu số 22-VDS (Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP). Hậu quả: tuyên bố mất tích làm tạm ngừng tư cách chủ thể và áp dụng biện pháp quản lý tài sản; tuyên bố đã chết làm chấm dứt tư cách chủ thể và mở thừa kế.
- Thủ tục hủy bỏ quyết định: Quy định tại Điều 390 và Điều 394 BLTTDS năm 2015. Thẩm quyền thuộc Tòa án đã ra quyết định tuyên bố. Thời hạn chuẩn bị xét đơn là 01 tháng (không phải thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm 04 tháng). Về nhân thân, nếu người vợ/chồng của người bị tuyên bố đã được giải quyết ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác thì việc ly hôn/kết hôn mới vẫn giữ nguyên hiệu lực pháp luật. Về tài sản, người trở về được nhận lại tài sản và phải thanh toán chi phí quản lý; người thừa kế cố tình giấu giếm di sản phải hoàn trả toàn bộ.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết
Chương 3 khảo sát thực tế áp dụng BLTTDS năm 2015 từ ngày 01/07/2016 đến năm 2023. Tác giả chỉ ra số lượng việc dân sự loại này có xu hướng tập trung cao tại các khu vực biên giới (Lạng Sơn, Hà Giang) hoặc địa phương có nhiều lao động đi biển, làm việc trên tàu cá và xuất khẩu lao động (Hà Tĩnh, Nghệ An, Hải Phòng), trong khi ở các đô thị lớn tỷ lệ này chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Khóa luận phân tích vụ việc thực tế tại Quyết định sơ thẩm số 01/2023/QĐST-DS ngày 22/03/2023 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh: Ông Nguyễn Văn T yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị C mất tích (bà C bỏ đi từ tháng 01/1988, gia đình đã tìm kiếm tại nơi cư trú cũ ở thị xã Hòn Gai và quê quán xã Khánh Thiện, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình nhưng không có tin tức). Tòa án đã áp dụng đúng thẩm quyền theo khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015, xác định thời hạn biệt tích trên 02 năm và chấp nhận yêu cầu để ông T tiến hành thủ tục ly hôn theo quy định.
Bên cạnh kết quả đạt được, khóa luận chỉ rõ các vướng mắc, hạn chế:
- Chi phí thông báo tìm kiếm: Quy định bắt buộc đăng 3 số báo trung ương liên tiếp và phát sóng đài trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp tạo gánh nặng tài chính lớn cho người dân có hoàn cảnh khó khăn.
- Xung đột pháp luật: Chưa có hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng thủ tục đối với đối tượng đang bị truy nã (tránh việc lợi dụng thủ tục dân sự để né tránh trách nhiệm hình sự).
- Xác định ngày chết: Cách xác định ngày chết trong quyết định còn lúng túng khi thời điểm bắt đầu tính thời hạn biệt tích không đồng nhất.
- Tách nhập yêu cầu: Thực tiễn Tòa án còn lúng túng khi xử lý đơn yêu cầu vừa xin tuyên bố mất tích vừa xin ly hôn trong cùng một đơn.
Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị hoàn thiện:
- Sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về việc loại trừ hoặc cơ chế phối hợp xác minh đối với trường hợp cá nhân đang bị cơ quan điều tra truy nã.
- Linh hoạt hóa phương thức thông báo tìm kiếm: giảm bớt tần suất hoặc mở rộng hình thức đăng tải trên các nền tảng thông tin điện tử của Tòa án và địa phương nhằm giảm bớt chi phí đăng báo, phát thanh truyền hình cho đương sự.
- Hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất về việc giải quyết hệ quả tài sản khi người bị tuyên bố mất tích trở về nhưng đã mất năng lực hành vi dân sự.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế phản ánh tình hình áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự về tuyên bố mất tích hoặc đã chết tại hai địa bàn có đặc thù kinh tế - xã hội khác biệt:
| Tòa án nhân dân giải quyết |
Thời gian |
Số lượng việc tuyên bố mất tích/chết |
Tổng số việc dân sự thụ lý |
Tỷ lệ (%) |
Ghi chú |
| TAND huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) |
Năm 2017 |
03 việc tuyên bố mất tích |
03 việc |
100% |
Không có việc tuyên bố đã chết |
| TAND huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) |
Năm 2018 |
06 việc tuyên bố mất tích |
07 việc |
85,7% |
Không có việc tuyên bố đã chết |
| TAND huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) |
Năm 2019 |
02 việc tuyên bố mất tích |
06 việc |
33,3% |
Không có việc tuyên bố đã chết |
| TAND quận Thanh Xuân (Hà Nội) |
Năm 2019 |
03 việc (mất tích hoặc đã chết) |
431 việc |
0,13% |
Tỷ lệ rất thấp ở đô thị |
Đóng góp của đề tài được thể hiện qua ba phương diện:
- Về mặt lý luận: Làm rõ bản chất pháp lý của việc dân sự tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết ở giai đoạn sơ thẩm; hệ thống hóa tiến trình lịch sử quy định pháp luật từ thời phong kiến, Pháp thuộc đến các bộ luật hiện đại.
- Về mặt thực tiễn: Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật thông qua số liệu thụ lý cụ thể tại Lộc Bình, Thanh Xuân và quyết định công bố của TAND thành phố Hạ Long, chứng minh sự phân hóa rõ nét về nhu cầu giải quyết thủ tục giữa vùng biên giới và đô thị.
- Về mặt lập pháp: Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm giảm chi phí đăng phát thông báo tìm kiếm cho người yêu cầu, giải quyết khoảng trống pháp lý liên quan đến người bị truy nã và quy định đồng bộ về tư cách đương sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn nhất định do tác giả tự xác định trong phần mở đầu:
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết tại Tòa án cấp sơ thẩm; chưa mở rộng đánh giá thủ tục xét lại quyết định theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Dữ liệu thực tiễn cấp huyện chỉ giới hạn khảo sát trong giai đoạn 2017 - 2019 tại huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) và năm 2019 tại quận Thanh Xuân (Hà Nội), chưa bao quát toàn diện số liệu tổng kết toàn quốc của TAND Tối cao.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thủ tục đối với các vụ việc có yếu tố nước ngoài (lao động mất tích ở nước ngoài, người vượt biên trái phép) và nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế bồi thường, khôi phục quyền sở hữu tài sản phức tạp khi người bị tuyên bố đã chết trở về sau thời hiệu chia thừa kế kéo dài.
Giá trị tham khảo
Công trình cung cấp nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự và Luật Dân sự tham khảo về phương pháp xây dựng đề tài nghiên cứu pháp lý thực định.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư khi tiếp cận quy trình chuẩn giải quyết việc dân sự sơ thẩm: từ khâu nhận đơn, tính thời hạn biệt tích (theo Điều 147 BLDS), quy trình thông báo tìm kiếm 04 tháng, đến kỹ thuật ban hành quyết định theo Mẫu số 22-VDS.
- Người thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến chế định hộ tịch, hôn nhân gia đình (ly hôn với người vắng mặt) và chế định thừa kế.
Câu hỏi thường gặp
Ai có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết?
Người yêu cầu phải là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự và có quyền, lợi ích liên quan bị ảnh hưởng hoặc phát sinh từ sự kiện một cá nhân mất tích hoặc đã chết (như quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, tài sản, kinh doanh, lao động), hoặc cơ quan, tổ chức yêu cầu để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước.
Thời hạn và phương thức thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu được pháp luật quy định như thế nào?
Theo Điều 388 và Điều 392 BLTTDS năm 2015, thời hạn ra quyết định thông báo tìm kiếm là 20 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn. Thời hạn thông báo tìm kiếm là 04 tháng kể từ ngày đăng, phát lần đầu tiên. Thông báo phải được đăng trên một báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, UBND cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát vắng mặt tại phiên họp thì Tòa án có hoãn phiên họp không?
Theo khoản 1 Điều 367 BLTTDS năm 2015, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp (khác với quy định của BLTTDS năm 2004 sửa đổi năm 2011 trước đây là phải hoãn phiên họp), nhằm đảm bảo việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, tránh lãng phí thời gian.
Khi người bị Tòa án tuyên bố đã chết trở về thì quan hệ hôn nhân của họ được giải quyết ra sao?
Căn cứ quy định của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự, khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết: nếu người vợ hoặc người chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục; trường hợp người vợ hoặc người chồng của người bị tuyên bố đã chết đã kết hôn với người khác thì việc kết hôn mới đó vẫn có hiệu lực pháp luật.
Mức tạm ứng lệ phí giải quyết yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc đã chết là bao nhiêu?
Căn cứ Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mức tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết là 300.000 đồng. Người yêu cầu phải nộp trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tạm ứng lệ phí của Tòa án.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Quỳnh Trang đã phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn thi hành thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết tại Tòa án cấp sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015. Thông qua các số liệu thụ lý thực tế tại Lộc Bình (Lạng Sơn), Thanh Xuân (Hà Nội) và án lệ sơ thẩm tại Hạ Long (Quảng Ninh), công trình đã chỉ rõ tính đặc thù của loại việc dân sự này cùng những vướng mắc phát sinh về chi phí thông báo tìm kiếm và khoảng trống pháp lý đối với người bị truy nã. Đề tài đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy phạm tố tụng có giá trị thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.