Chương 1: Những vấn để lý luận vẻthi tục giải quyết yêu câu tuyên bổ một người là mất tích hoặc đã chết Chương 2. Quy định của pháp luật tổ tung dân sự Việt Nam hiện hành vé thủ tue tuyên bổ một người 1a mat tích hoặc đã chết Chương 3: Thực tiễn thực hién và một số kién nghĩ nhằm nâng cao hiệu quả của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bồ một người lả mat tích hoặc đã chết CHƯƠNG L NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CAU TUYEN BÓ MỘT NGƯỜI LÀ MÁT TÍCH HOẶC ĐÃ CHET 111. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết LLL Kháin lệm thi tục giải quyếtyêu cầu tyén bồ một người là mắt tích hoặc đã chết Để đưa ra được khái niệm “Thi tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người ler mắt tich hoặc đã chét" cần làm rõ các khái niệm “nắt tích”, “chất”, “hyên bỗ mắt tích”, “hyên bố chết ~ Thứ nhất, khái niệm “huyên at tích”, “huyên bé chất 6 góc độ ngôn ngữ học, khái niệm tuyên bố được hiểu là nói cho moi người biết. Ở đây, tuyên bổ nhằm mục đích thông báo một sự việc, sự kiện nào đó.
Ví dụ “như tuyển bổ kết qua kì thi học kỉ; tuyền bổ vô hiệu hợp đồng dân sự, tuyên bổ kết quả cuộc thi,. Ngoải ra, tuyên bó được hiểu lả nói lên ý kiến, chủ trương vẻ một vấn để nao đó, một phát biểu có tính chất chính thức, trình trong của một chính phủ ‘hay một đảng, một tổ chức, một hội nghị, hoặc của con người thay mặt các tổ chức. đó về một vẫn để trọng đại nao đó. Ví du: Tuyên bổ của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa XA hội chủ nghĩa Viet Nam vé vẫn dé Hoang Sa và Trường Sa.
Hay bản Tuyển ngôn độc lập của Chủ tịch Hỗ Chỉ Minh năm 1945, Đối tương được tuyên bổ có thé là cá nhân, một nhóm người hay tất cả mọi người. Chẳng han, Bản tuyến ngôn độc lập của Chủ tịch Hỗ Chi Minh, đối tương, được tuyênbồ là tắt cả mọi người trên toàn thé giới, việc tuyên bô để khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc, không chỉ có giá trị lịch sử, khẳng định mạnh mé chủ quyển. quốc gia của dan tộc Việt Nam trước toàn thể giới. Tuyên bổ được thực hiện bởi hình thức noi, viết,.
nhằm mục đích chính là để thông báo tới doi tượng can được tuyên tổ ‘Nhu vây, khái niêm tuyên bé được hiểu là viếc con người nói, thông báo cho 8 mọi người đều biết về một van dé nào đó, van dé này có thé mang tính chất vi mô. liên quan đến chính trị, kinh té, xã hội,. hay mang tính vi mô ngay chỉ khía cạnh. nhỏ của một cá nhân, một sự việc hay một sự vật nao đó.
Mat tích trang từ điễn Tiếng Việt là “hoàn loàn không còn thấy ting tích đâu cá cũng không còn rỡ hay mắt ˆ1 Khas niệm này đưa ra hai đặc điểm của mất tích đó 1à không còn thay hing tích đâu và cũng Rhông thay còn hay mắt. nghĩa trên là thực. tế một chủ thể được coi lé mắt tích khi những người xung quanh họ không thấy được hho trên thực tế, cũng không liên lac được với ho, mà cũng không biết họ đang ở đâu. và trong tinh trạng nhur thé nao ‘Theo Điều 68 BLDS năm 2015 quy định các điều kiện để sác định mắt tích, khi có đây đủ các yêu tổ điền kiện đó thi cá nhân được sắc định mắt tích.
Cá nhân đã biết tích 02 năm liên trở lên, không có bắt cử tin tức gì mc dù đã dùng đủ mọi biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật, người liền quan đến yêu câu Tòa án tuyên bổ cá nhân là mắt ch. Khi đã đáp ting đủ các điều kiện này thi cá nhân được Toa án tuyên bé la mắt tích. Khi Tòa án đưa ra quyết đính có hiệu lực pháp luật tuyén "bổ cá nhân là mắt ích sé kéo theo nhiều hấu quả pháp ly Qua cả góc đô ngôn ngữ và góc độ pháp lý th “mat tích" déu có đặc điểm chung, đó là vắng mat trong một thời gian dai và không để lại tung tích gì, ta cũng có thé tuyên bố mắt tích là sự thông bảo cho moi người biết sự vắng mặt, biệt tích của cá nhân trong một thời gian dai ma không để lại tung tích gì khi đã áp dung đủ moi biện. pháp tìm kiểm theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, chết hay qua đời thông thường được xem là sự chm đứt các hoạt động của một sinh vật hay ngừng lại vĩnh viễn mọi hoạt động sông (không thể phục hồi) của cơ thé.
Khi nhắc tới “cái chết" của con người, việc định nghĩa của sự chết còn tủy thuộc vào các quan điểm và nhiễu khía cạnh khác nhau. iết” trong Đại tử điển tiéng Việt được định nghĩa “la mắt khả năng sống, *hông côn biéu hiên của sự sẵng”2, định nghĩa này dang dé câp dén cái chét về mặt " Viinngin gine, Hoing Đ (Cabin, 2018), Tran Tổng Việt, hò Hing Độc, 788 Bộ go đục vi Dio uo, Bung tim ngôn ng vi văn hox Vit Nam (199), Ngyễn Ne ¥ (Ai bin, Bae ining Pi Wed Vinhoa ~ nga, 1108 9 sinh học, tức là khi tim của một người ngừng đập, moi sử trao đổi chất, hô hap của tho không được tiếp tục nữa. và có sự sắc nhân của cơ quan, cả nhân chuyên môn. nur bác sĩ, giảm định viên pháp y.
‘Theo từ điển giải thích ngôn ngữ Luất học của trường Đại học Luất Ha Nội thi, “sắt ích tức là hoàn toàn không còn thập hung tích đâu cả cũng không rố còn hay mt’ “yên bb mắt tíchlà việc Tòa án có thẩm quyển theo yêu cẩu của người có quyén lợi ich liên quan tuyên bố một người mắt tich do vắng mặt tại nơi cư tris (biệt tích) đã 2 năm liền trỏ lên mà vẫn không thắp có tin tức xác thực là người đó còn sống hay đã chắt”4: “hyên bề chất là việc Tòa án có thẩm quyên tuyên bố một người. là đã chất theo yêu cầu của những người cô quyền và lot ich liên quam trong các "trường hop pháp luật uy đmh "5 Cén theo SỐ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng thì “Tuyên bổ mắt tích l vide Tòa án có thẩm quyên theo yêu cầu của người có quyén, lợi ich liên quan đến huyên bô một người là mắt tích do vắng mặtở nơi cutri (biệt tích) đã2 năm liền trở lên và vất không có ta bức xác thu là người cồn sống hay đã chết'® “yên bổ ciết là việc Tòa án có thẫm quyển tuyên bễ một người là đã chất theo yêu cần của những người cô quyển và lợi ich liên quan trong các trường hợp pháp luật guy dah? Qua những phân tích trên có thể đưa ra định ngiãa chung về “Yêu câu yên bổ một người là mắt tich hoặc äã chết” như sau: là việc người cỏ quyễn, lợi ích liên quam dn yên cẩu cũa Tòa án yên bồ một người là mắt tích hoặc chất trong một khoảng thời gian do huật định nà không có tin tức xác thee là người đỏ còn sống hey đã chết ~ Thứ hai, khái niệm “Thủ tục gidt quyết yêu câu tuyên bd một người là mắt tich hoặc đã chét ‘Theo từ điển Luật học của Viện khoa học Pháp ly Bộ Tư pháp thi không có khái tiệm về “tii fục ” ma chỉ có khải niệm về “thai túc tổ tưng”, theo đó “thai tung tổ NB Cân min din, Nội, 90. “TruongĐại học Luật Hà Mật “Từ độn giã shh single lọc” NXB Công en dnd NB, 130. ° Tường Đụ họ Lait Ha Một, Te adn gi dich ngỡ uất lọc” NOB Công vahân dân hà Nội 130 ° Nguyễn Day Lim (1996), SỐ tt nổ pháp thông dng Nhà Go đạc, Ha Nội, 395, ‘Ngan Duy Lm 1996), 56 tp Du ng phíp ý ng dig Nos Giáo đục, Hà Nội, 394 10 tùng là cách thức trình tự và ngÌủ thức tiễn hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vu ân đã được thn I hoặc khi 16 theo quy Äịnh của pháp indt'* Trang Từ điền Tiẳng Việt của Viên ngôn ngữ học thi “thủ tục “là những việc cu thể phải làm theo một tình tự quy định, để tiền hảnh những công việc có tính chất chính thức®.
Trong pháp luật Việt Nam, Luật TTDS Việt Nam hiện hành cũng quy định vé viếc giải quyết yêu câu tuyên bổ một người là mắt tích hoặc đã chết là VDS, được giải quyết theo thủ tục TTDS tai Tòa án. "Dựa vio các khát niêm đã nêu trên, có thể đưa ra khái niệm vẻ thủ tục giải quyết ‘yéu cầu tuyên bỗ một người lá mắt ích hoặc đã chết như sau “Lat cách thức, trình he tiễn hành xem xét gidt quyết yêu cầu của một người có quyển, lợi ích liên quan yêu. cầu Toc án huyền bd một người là mắt tích hoặc đã chét trong một khoảng thôi gian do huật quy định mà không có tin tức xác thực là người dé còn sống hay đã chất, các hoat động tố tụng được bắt đầu kit Tòa án nhận được đơn yêu cầu đến kit quyết dink giải quyết yêu cầu tuyên bê một người là mắt tích hoặc đã chết có hiệu lực pháp hit 112. Di điểm của thai tục giải quyết yêu cầu tuyên bo một người mắt tích hoặc đã chết ‘Yeu cầu tuyến bô một người là mất tích hoặc đã chết được pháp luật quy định.
Ja một VDS. Việc dan sự là việc ma cá nhân, tổ chức không có tranh chap với nhau. về quyền lợi nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp ly lâm phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ, Yéu cầu tuyến bổ một người là mắt tích hoặc đã chết có những đặc điểm sau: Thứ nhất, yên chu tuyên bé mất tích hoặc đã chết chỉ áp dụng với cá nhân Dưới góc đồ pháp lý, cá nhân la chủ thể phổ biến của các giao dich dân sự, khi tham gia các giao dich, cá nhân phải là người thành nign, có năng lực hành vi dân sự đây đủ.