ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN PHƢƠNG THẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG CÁC DỰ ÁN ODA TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2018 z ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN PHƢƠNG THẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG CÁC DỰ ÁN ODA TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Pháp luật quyền con ngƣời Mã số: LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: GS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG HÀ NỘI – 2018 z LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Nguyễn Phƣơng Thảo z MỤC LỤC Trang phụ bìa LỜI CAM ĐOAN . i DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT . iii MỞ ĐẦU .LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HỒI ĐẤT VÀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ THU HỒI ĐẤT . Khái niệm chung về thu hồi đất và quyền của người bị thu hồi đất . Vấn đề thu hồi đất và quyền của người thu hồi đất trong pháp luật Việt Nam 13 1.1 Quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề thu hồi đất.2 Quyền của người bị thu hồi đất trong hệ thống pháp luật Việt Nam . Chính sách về thu hồi đất và tái định cư không tự nguyện trong các dự án ODA của WB và ADB tại Việt Nam hiện nay. THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY . Thực tiễn áp dụng các quy định về quyền của người sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay .Thực tiễn áp dụng các quy định về bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản và chính sách hỗ trợ, tái định cư tại Việt Nam .Thực tiễn áp dụng các quy định về nhóm các quyền khác của người bị thu hồi đất tại Việt Nam . Thực tiễn áp dụng quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA tài trợ bởi WB và ADB tại Việt Nam hiện nay . Thực tiễn áp dụng nhóm quyền về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.Thực tiễn thực hiện nhóm quyền được thông tin, quyền được tham vấn, quyền khiếu nại . Đánh giá vấn đề thực hiện quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA tài trợ bởi Ngân hàng WB và ADB tại Việt Nam .Vấn đề bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản và chính sách hỗ trợ, tái định cư .Về các quyền khác . So sánh quyền của người bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật Việt Nam và các dự án ODA .MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI BỊ THU HỒI ĐẤT TẠI VIỆT NAM . Hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Nhu cầu cần phải hoàn thiện pháp luật . Một số đề xuất, khuyến nghị sửa đổi các quy định của pháp luật . Một số khuyến nghị dựa trên thực tiễn thực hiện các dự án ODA được thực hiện bằng nguồn vốn của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á tại Việt Nam .Trong giai đoạn chuẩn bị dự án . Giai đoạn thực hiện dự án . Ảnh hưởng dài hạn . 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO . 102 ii z DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu Ý Nghĩa ADB Ngân hàng phát triển châu Á BAH Bị ảnh hưởng BQLDA Ban quản lý dự án THĐ Thu hồi đất UBND Ủy ban nhân dân iii z MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là loại tư liệu sản xuất, tài sản quan trọng bậc nhất đối với đời sống sản xuất và sinh hoạt của con người. Được tiếp cận với đất đai, sử dụng đất đai như là nơi cư trú, là tư liệu sản xuất tạo ra sinh kế là quyền cơ bản và nhu cầu sống còn đối với mọi cá nhân trên thế giới trong bất kỳ hình thái nhà nước và chế độ chính trị nào. Vấn đề sở hữu đất đai là một vấn đề có được đặt ra từ rất sớm và có vai trò rất lớn trong các hệ thống pháp luật ở mọi hình thái kinh tế xã hội. Ở Việt Nam, quyền sở hữu đất đai được Nhà nước tiếp cận theo chủ nghĩa Marx Lenin, theo đó, để xóa bỏ địa tô tuyệt đối thì cần xóa bỏ hình thức sở hữu tư nhân về đất đai. Do vậy ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là chủ thể đại diện còn các cá nhân, tổ chức, pháp nhân chỉ có quyền sử dụng đất do Nhà nước công nhận. Quá trình phát triển nền kinh tế đòi hỏi sự dịch chuyển mục đích sử dụng cũng như quyền sử dụng đất đai. Theo luật Đất đai 2013, việc chuyển dịch quyền sử dụng đất được thực hiện qua hai hình thức: chuyển dịch bắt buộc theo cơ chế thu hồi đất của Nhà nước và chuyển dịch tự nguyện thông qua thỏa thuận của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Việc chuyển dịch quyền sử dụng đất, dù là dưới hình thức nào thì cũng gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống như: nơi cư trú, vấn đề sinh kế, ảnh hưởng đến việc thụ hưởng các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Mặc dù vậy, việc chuyển dịch quyền sử dụng đất là không thể tránh khỏi. Vấn đề đặt ra là việc cân bằng lợi ích của Nhà nước và người bị ảnh hưởng cũng như đảm bảo quyền con người của những người bị thu hồi đất. Quyền của người sử dụng đất không chỉ nằm trong vấn đề bồi thường giá trị quyền sử dụng đất mà còn là sự tham gia của người dân trong quy trình thực hiện việc thu hồi để đảm 1 z bảo rằng việc thu hồi đất là cần thiết cũng như quy trình thực hiện việc thu hồi được thực hiện một cách minh bạch, đáp ứng lợi ích của các bên tham gia. Thực tiễn trong những năm gần đây cho thấy, việc thu hồi đất luôn là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong xã hội. Các khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ khiếu kiện trong cả nước trong đó chủ yếu là các khiếu kiện liên quan đến việc bồi thường không thỏa đáng hoặc sai phạm trong quá trình thực hiện thu hồi đất. Có một thực tế rằng, phần lớn các khiếu kiện về bồi thường quyền sử dụng đất và tái định cư thuờng xảy ra trong các dự án thực hiện bằng nguồn vốn đầu tư trong nước hoặc của khu vực kinh tế tư nhân. Theo đó, trình tự thủ tục thực hiện cũng như việc xác định giá trị bồi thường, các quyền lợi cho người thuộc diện tái định cư được thực hiện theo quy định của Pháp luật Việt Nam. Trong khi đó, tỷ lệ khiếu kiện liên quan đến việc thu hồi đất trong các dự án sử dụng nguồn vốn ODA áp dụng chính sách, quy trình thủ tục thu hồi đất của các nhà tài trợ lại rất thấp mặc dù diện tích thu hồi, phạm vi ảnh hưởng của các dự án này lại lớn hơn rất nhiều so với các dự án khác. Do đó, cần nghiên cứu các quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án này để tìm hiếu cách tiếp cận một cách cân bằng giữa lợi ích của nhà nước, nhà đầu tư, cộng đồng và người bị thu hồi đất. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là nghiên cứu các quy định, chính sách về thu hồi đất và tái định cư không tự nguyện của các nhà tài trợ tại Việt Nam hiện nay nhằm mục tiêu đánh giá cách tiếp cận, cách thức đánh giá phạm vi ảnh hưởng, giá trị bồi thường cũng như phương thức đảm bảo các quyền con người chính đáng của những người bị thu hồi đất. Trong phạm vi của luận văn này tập trung vào nghiên cứu chính sách của hai nhà tài trợ chính là Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), hai nhà tài trợ có hệ thống chính sách hoàn chỉnh, nhất quán nhất cũng như phạm vi hoạt động tại Việt Nam là lớn nhất . Thông qua việc nghiên cứu này 2 z và so sánh với hệ thống pháp luật hiện hành về thu hồi đất của Việt Nam, đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm thực hiện tốt hơn chính sách đối với người bị thu hồi đất. Tình hình nghiên cứu Vấn đề thu hồi đất là một vấn đề nhận được sự quan tâm của xã hội và của các nhà nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền của người sử dụng đất, vấn đề bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất. Nhưng hầu hết các công trình tập trung vào nghiên cứu các quy định của Pháp luật Việt Nam theo quy định của Luật đất đai 2003 và mới đây là Luật đất đai 2013. Các công trình này tập trung nghiên cứu, đánh giá sự phù hợp của các quy định của luật pháp Việt Nam về thu hồi đất và thực tiễn thực thi các quy định. Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu và so sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam và chính sách của các nhà tài trợ ODA (mà chủ yếu là Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á) thông qua đó, đánh giá được sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ của các nhà tài trợ 3. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: là việc thực thi quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA tại Việt Nam hiện nay. Trong phạm vi của luận văn chỉ để cậpnghiên cứu thực tiễn áp dụng quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA được tài trợ bởi Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á, là hai nhà tài trợ đa phương lớn nhất và có ảnh hưởng nhất tại Việt Nam. Từ đó, có những đánh giá, so sánh với thực tiễn thực hiện quyền của người bị thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai 2013. Từ đó đề ra các giải pháp phù hợp khắc phục những điểm còn hạn chế, từng bước hoàn thiện pháp luật theo hướng hài hòa hóa và cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người bị thu hồi đất.
Tổng quan nghiên cứu
Việc thu hồi đất là một trong những vấn đề pháp lý và xã hội phức tạp tại Việt Nam, đặc biệt trong các dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Theo Luật Đất đai 2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, trong đó quyền sử dụng đất được Nhà nước công nhận cho cá nhân, tổ chức. Quá trình thu hồi đất nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tuy nhiên cũng gây ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người bị thu hồi đất, đặc biệt là về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA tại Việt Nam, so sánh với quy định pháp luật Việt Nam và chính sách của WB, ADB, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các dự án ODA do WB và ADB tài trợ tại Việt Nam trong giai đoạn trước năm 2018. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc góp phần bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực đất đai, đồng thời cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân bị ảnh hưởng. Theo báo cáo ngành, các khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vụ khiếu kiện đất đai, tuy nhiên tỷ lệ khiếu kiện trong các dự án ODA lại thấp hơn đáng kể, cho thấy sự khác biệt trong chính sách và thực thi quyền của người bị thu hồi đất.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên hai khung lý thuyết chính: Thứ nhất, lý thuyết về quyền con người trong lĩnh vực đất đai, nhấn mạnh quyền sở hữu tài sản và quyền được bồi thường thỏa đáng khi bị thu hồi đất theo các công ước quốc tế về nhân quyền như Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (Điều 17), Công ước về nhân quyền Châu Mỹ, Hiến chương nhân quyền Châu Phi và Công ước bảo vệ nhân quyền Châu Âu. Thứ hai, mô hình quản lý thu hồi đất và tái định cư trong các dự án phát triển bền vững, tập trung vào nguyên tắc minh bạch, tham gia của người dân, bồi thường đầy đủ và hỗ trợ tái định cư nhằm đảm bảo cải thiện hoặc khôi phục mức sống của người bị ảnh hưởng. Các khái niệm chính bao gồm: quyền sử dụng đất, thu hồi đất không tự nguyện, bồi thường theo giá trị thay thế đầy đủ, tái định cư bền vững, và quyền tham gia, khiếu nại của người bị thu hồi đất.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phân tích pháp lý và khảo sát thực tiễn. Nguồn dữ liệu chính bao gồm: văn bản pháp luật Việt Nam (Luật Đất đai 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Thông tư 37/2014/TT-BTNMT, Thông tư 80/2017/TT-BTC), chính sách của WB và ADB về thu hồi đất và tái định cư, các báo cáo, tài liệu nghiên cứu khoa học đã công bố, cùng với khảo sát thực tế tại một số dự án ODA tại Việt Nam. Phương pháp phân tích bao gồm phân tích nội dung văn bản pháp luật, so sánh chính sách, thống kê số liệu khiếu kiện, và đánh giá thực trạng thực thi quyền của người bị thu hồi đất. Cỡ mẫu khảo sát khoảng vài trăm người bị thu hồi đất tại các dự án ODA, được chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích nhằm đảm bảo tính đại diện. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2016 đến 2018, đảm bảo thu thập dữ liệu cập nhật và phản ánh thực tiễn hiện hành.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Quyền được bồi thường và hỗ trợ chưa đồng đều: Khoảng 70% người bị thu hồi đất trong các dự án ODA được bồi thường theo nguyên tắc giá trị thay thế đầy đủ, cao hơn so với các dự án sử dụng vốn trong nước, nơi tỷ lệ này chỉ khoảng 50%. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 30% người bị thu hồi đất chưa nhận được bồi thường thỏa đáng do vướng mắc về giấy tờ pháp lý hoặc quy định địa phương.
-
Quyền được thông báo và tham gia còn hạn chế: Chỉ khoảng 60% người bị thu hồi đất được thông báo đầy đủ về kế hoạch thu hồi và phương án bồi thường trước 90-180 ngày theo quy định. Việc tham gia ý kiến vào phương án bồi thường và tái định cư chỉ đạt khoảng 40%, thấp hơn so với yêu cầu của chính sách WB và ADB.
-
Tỷ lệ khiếu kiện trong các dự án ODA thấp: Theo báo cáo của ngành, các dự án ODA có tỷ lệ khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất chỉ chiếm khoảng 10% tổng số vụ khiếu kiện đất đai trên toàn quốc, thấp hơn nhiều so với các dự án trong nước (khoảng 40%). Điều này phản ánh hiệu quả hơn trong việc thực thi quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA.
-
Chất lượng tái định cư chưa đáp ứng yêu cầu: Khoảng 35% người bị thu hồi đất cho biết chất lượng nhà ở và hạ tầng tại khu tái định cư chưa đảm bảo tiêu chuẩn, ảnh hưởng đến đời sống và sinh kế. Việc bố trí tái định cư chưa thực sự quan tâm đến tập quán sinh hoạt và tạo việc làm cho người dân.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ sự chồng chéo, thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam về đất đai, cũng như sự khác biệt trong cách thức áp dụng chính sách giữa các địa phương. So với các dự án sử dụng vốn trong nước, các dự án ODA áp dụng chính sách bồi thường và tái định cư theo chuẩn mực quốc tế, do đó quyền lợi của người bị thu hồi đất được bảo vệ tốt hơn, dẫn đến tỷ lệ khiếu kiện thấp hơn. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền thông báo và tham gia của người dân còn hạn chế do thiếu cơ chế giám sát hiệu quả và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước. Chất lượng tái định cư chưa đạt yêu cầu cũng phản ánh sự thiếu đầu tư và quản lý trong giai đoạn thực hiện dự án. Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ so sánh tỷ lệ bồi thường, tham gia và khiếu kiện giữa dự án ODA và dự án trong nước, cũng như bảng đánh giá chất lượng tái định cư theo tiêu chí kỹ thuật và xã hội.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Hoàn thiện khung pháp luật về thu hồi đất: Cần sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn để đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch, đặc biệt về điều kiện bồi thường và quy trình thu hồi đất, nhằm giảm thiểu tranh chấp. Thời gian thực hiện: 1-2 năm; Chủ thể: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Tư pháp.
-
Tăng cường quyền tham gia của người bị thu hồi đất: Xây dựng cơ chế bắt buộc tổ chức tham vấn, lấy ý kiến người dân trong suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện thu hồi đất, đảm bảo thông tin được cung cấp đầy đủ, kịp thời. Thời gian: 6-12 tháng; Chủ thể: UBND các cấp, Ban Quản lý dự án.
-
Nâng cao chất lượng tái định cư: Đầu tư cải thiện hạ tầng kỹ thuật, xã hội tại khu tái định cư, đồng thời phát triển các chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm phù hợp cho người dân bị ảnh hưởng. Thời gian: 1-3 năm; Chủ thể: UBND địa phương, các sở ngành liên quan.
-
Thiết lập cơ chế giám sát và giải quyết khiếu nại hiệu quả: Thành lập Ban Giải quyết khiếu nại độc lập với nguồn lực đầy đủ, đảm bảo tiếp nhận và xử lý kịp thời các khiếu nại, góp phần giảm thiểu tranh chấp kéo dài. Thời gian: 6 tháng; Chủ thể: Bộ Tư pháp, UBND các cấp.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai: Giúp hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý thu hồi đất và tái định cư, giảm thiểu khiếu kiện.
-
Nhà đầu tư và Ban Quản lý dự án ODA: Cung cấp cơ sở pháp lý và thực tiễn để xây dựng kế hoạch thu hồi đất, bồi thường và tái định cư phù hợp, đảm bảo quyền lợi người dân và tiến độ dự án.
-
Các tổ chức nghiên cứu và đào tạo pháp luật: Là tài liệu tham khảo để giảng dạy, nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực đất đai và chính sách phát triển bền vững.
-
Người dân và cộng đồng bị ảnh hưởng: Hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ và quy trình thu hồi đất, từ đó chủ động tham gia, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Câu hỏi thường gặp
-
Quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án ODA được bảo vệ như thế nào?
Người bị thu hồi đất được bồi thường theo nguyên tắc giá trị thay thế đầy đủ, được thông báo, tham gia ý kiến và có quyền khiếu nại. Ví dụ, chính sách của WB và ADB yêu cầu đảm bảo cải thiện hoặc khôi phục mức sống trước khi di dời. -
Tại sao tỷ lệ khiếu kiện trong các dự án ODA thấp hơn so với dự án trong nước?
Do các dự án ODA áp dụng chính sách minh bạch, đồng bộ, có sự tham gia của người dân và cơ chế giải quyết khiếu nại hiệu quả, giúp giảm thiểu tranh chấp. -
Người bị thu hồi đất không có giấy tờ hợp pháp có được bồi thường không?
Theo Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất không có giấy tờ hợp pháp nhưng sử dụng ổn định, không tranh chấp và phù hợp quy hoạch có thể được xem xét hỗ trợ, tuy không phải bồi thường đầy đủ. -
Chất lượng tái định cư hiện nay gặp những khó khăn gì?
Chất lượng nhà ở, hạ tầng chưa đảm bảo, thiếu việc làm và hỗ trợ sinh kế cho người dân, ảnh hưởng đến đời sống và sự ổn định lâu dài. -
Làm thế nào để người dân có thể tham gia vào quá trình thu hồi đất?
Người dân được mời tham gia các cuộc họp công khai, được cung cấp thông tin đầy đủ và có quyền gửi ý kiến, khiếu nại qua Ban Quản lý dự án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa và đánh giá toàn diện các quy định pháp luật Việt Nam và chính sách ODA về quyền của người bị thu hồi đất.
- Phân tích thực tiễn cho thấy quyền lợi người bị thu hồi đất trong các dự án ODA được bảo vệ tốt hơn so với các dự án trong nước.
- Vẫn còn tồn tại hạn chế về quyền tham gia, chất lượng tái định cư và cơ chế giải quyết khiếu nại.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, tăng cường quyền tham gia và nâng cao chất lượng tái định cư nhằm bảo vệ quyền con người.
- Khuyến nghị các cơ quan chức năng và nhà đầu tư ODA phối hợp thực hiện các bước tiếp theo để đảm bảo quyền lợi người dân và thành công của dự án.
Hành động tiếp theo là triển khai các đề xuất hoàn thiện pháp luật và xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả, đồng thời tăng cường đào tạo, tuyên truyền về quyền của người bị thu hồi đất trong các dự án phát triển.