CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 1. Định nghĩa bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất * Khái niệm của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Mặc dù người sử dụng đất không phải là chủ sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất do tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất).
Tuy nhiên, quyền sử dụng đất của người sử dụng được pháp luật bảo hộ (Điều 54 Hiến pháp năm 2013). Vì vậy, khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích công cộng hoặc vì lợi ích quốc gia … thì vấn đề bồi thường cho người sử dụng đất được đặt ra. Nó được ghi nhận trong pháp luật đất đai và được giải mã như sau: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”1. Vậy người sử dụng đất chỉ được Nhà nước - đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai - trao quyền sử dụng đất để sử dụng thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất mà tại sao khi Nhà nước thu hồi đất họ lại đươc bồi thường.
Điều này được lý giải bởi một số lý do chủ yếu sau đây: 1 Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 9 Thứ nhất, thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho chủ thể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Cho dù muốn hay không muốn thì thu hồi đất luôn gây ra những hậu quả ảnh hưởng tiêu cực đến người sử dụng đất. Họ bị tước đoạt mất tư liệu sản xuất, nơi sinh sống cư trú và rơi vào tình trạng đời sống bị đảo lộn, gặp nhiều khó khăn. Những “tai họa” này ập xuống đầu người sử dụng đất không phải do lỗi của họ gây ra mà xuất phát từ yêu cầu khách quan của xã hội như do nhu cầu sử dụng đất vào mục đích quốc phòng - an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Vì vậy, trong trường hợp này việc bồi thường cho người sử dụng đất để khắc phục những hậu quả tiêu cực do thu hồi đất gây ra. Thứ hai, Thông thường, khi nhắc đến cụm từ "thu hồi", chúng ta thường nghĩ đây là chế tài, hình phạt dành cho người có hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên trong trường hợp này, thu hồi đất không phải là chế tài được Nhà nước áp dụng đối với người sử dụng đất mà do nhu cầu cần có đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng - an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích công cộng … Nhà nước buộc phải thu hồi đất đã giao cho người sử dụng đất sử dụng ổn định lâu dài. Do đó, Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất Thuật ngữ "Bồi thường" được sử dụng và lưu hành từ rất lâu trong các văn bản quy phạm pháp luật; đặc biệt là trong các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai.
Đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ "Bồi thường" mới được sử dụng trở lại và được kế thừa trong các đạo Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cho dù ở những thời kỳ khác nhau, pháp luật đất đai sử dụng thuật ngữ “bồi thường” hay thuật ngữ “ đền bù thiệt hại” song giữa hai thuật ngữ này có sự tương đồng; nó được sử 10 dụng để chỉ việc Nhà nước bù đắp các thiệt hại là hậu quả của thu hồi đất cho người sử dụng đất mà không do lỗi của họ gây ra. * Khái niệm pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Pháp luật về hỗ trợ được hiểu là hệ thống các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành về lĩnh vực hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Cho đến nay, pháp luật về hỗ trợ vẫn còn nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau, cách vận dụng khác nhau.
Có những quan niệm cho rằng đất đai là một thứ hàng hóa và khi Nhà nước thu hồi đất thì trả cho người đang có quyền sử dụng đất một số tiền tương ứng. Cũng có quan niệm cho rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý nên khi Nhà nước thu hồi đất chỉ trả một phần kinh phí gọi là bồi thường. Mỗi quan điểm đều có mặt tích cực và hạn chế của nó, bởi lẽ đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không phải là hàng hóa để trao đổi, đất đai cũng là thành quả của cách mạng, của toàn thể nhân dân mà Nhà nước là đại diện quản lý nên không thể thu hồi, sử dụng tùy tiện mà phải làm sao để hài hòa các lợi ích. Pháp luật điều chỉnh về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữa Nhà nước với người dân, giữa Nhà nước với chủ các dự án thu hồi đất, giữa người dân với các chủ dự án thu hồi đất.
Theo đó, một trong những quy định trong đó pháp luật sẽ quy định điều chỉnh hỗ trợ ổn định, sản xuất của người dân; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm kết hợp kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở. Đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất * Đặc điểm của pháp luật về Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là một dạng cụ thể của bồi thường nói chung. Bên cạnh các đặc điểm chung thì bồi thường, hỗ trợ còn có 11 một số đặc điểm riêng chủ yếu sau đây: Một là, vấn đề bồi thường chỉ đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển KT - XH vì lợi ích quốc gia, công cộng. Điều này có nghĩa là không phải bất cứ trường hợp người bị thu hồi đất nào cũng được Nhà nước bồi thường.
Chỉ những trường hợp Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng - an ninh (quy định tại Điều 61 Luật Đất đai năm 2013); thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013) mới được Nhà nước bồi thường. Hai là, việc bồi thường cho người sử dụng đất không do lỗi của Nhà nước gây ra mà xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội, của cộng đồng. Điều này có nghĩa là Nhà nước thu hồi đất sử dụng không vì nhu cầu của Nhà nước mà phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Ba là, việc bồi thường về đất thực hiện không căn cứ vào giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường (trao đổi ngang giá) mà dựa vào giá đất cụ thể do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất; Bốn là, về chủ thể bồi thường.
Nhà nước do xã hội thiết lập nên được Nhân dân trao cho quyền lực nhà nước để quản lý xã hội. Khi thu hồi đất sử dụng cho các mục đích chung của xã hội thì Nhà nước thay mặt công đồng xã hội (người được thụ hưởng lợi ích được tạo ra do việc thu hồi đất) đứng ra thực hiện bồi thường cho người sử dụng đất. Năm là, về nguyên tắc bồi thường. Khác với nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự là nguyên tắc tự nguyện thoả thuận giữa người có trách nhiệm bồi thường và người được bồi thường; chỉ khi nào các bên không tự thoả thuận được với nhau thì mới yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp giải quyết.
Trong thu hồi đất, việc bồi thường chỉ được thực hiện khi người bị thu hồi đất thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về 12 bồi thường do pháp luật đất đai quy định và giá bồi thường là giá đất cụ thể do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất. * Đặc điểm pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Thứ nhất, tính quy phạm phổ biến. Pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là nói đến những quy phạm về hỗ trợ. Thứ hai, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.
Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức là sự thể hiện nội dung pháp luật hỗ trợ trong những hình thức nhất định Thứ ba, pháp luật về hỗ trợ do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Sự bảo đảm bằng Nhà nước là một thuộc tính của pháp luật về hỗ trợ. Pháp luật về hỗ trợ do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Điều đó có nghĩa là Nhà nước đã trao các quy phạm pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức và mọi công dận, tức là pháp luật về hỗ trợ mới trở thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung.
Các hình thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 1. Bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng Như phần trên đã đề cập, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc đất đai là địa bàn cư trú, sinh sống ổn định lâu dài của con người hay là nơi xây dựng nhà xưởng, địa điểm sản xuất - kinh doanh v. Do đó, Nhà nước thu hồi đất dẫn đến việc người bị thu hồi đất mất đất sản xuất hoặc mất chỗ ở dẫn đến không có “công ăn việc làm”, không có thu nhập. cuộc sống bị xáo trộn, đảo lộn gặp rất nhiều khó khăn.