Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Chương 2: Thực trạng pháp Luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.Lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thu hồi đất nông nghiệp - Khái niệm thu hồi đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất đã thực sự được manh nha từ lâu, nhưng nó thực sự được quan tâm từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, thời điểm đó Nhà nước đã tiến hành xoá bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Theo đó, Hiến pháp năm 1959 thừa nhận ba hình thức sở hữu đất đai là sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể. Khi tiến hành thu hồi đất Nhà nước tiến hành điều chỉnh ruộng đất hoặc nhượng lại ruộng đất cho người bị trưng dụng sẽ được đền bù từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng bị trưng dụng. Mặc dù thời kỳ này, vấn đề thu hồi đất chưa được quy định chi tiết nhưng đó là cơ sở để các quy định về thu hồi đất sau này được phát triển.
Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai là sở hữu toàn dân, trên cơ sở đó tại mục 3, phần v của quyết định số 201/CP ngày 01/07/1980 Hội đồng Chính phủ quy định về thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước cũng quy định về việc thu hồi đất cụ thể quy định về lý do thu hồi và việc bồi thường khi thu hồi đất. Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “Giao-thu” giữa Nhà nước và người sử dụng. cho đến trước Luật đất đai năm 2003 thì các quy định về thu hồi đất vẫn tiếp tục được quy định và mở rộng nhưng không có định nghĩa cụ thể. Khi Luật đất đai năm 2003 ra đời đã chính thức đề cập đến định nghĩa thu hồi đất là gì, theo đó, khoản 5, điều 3 Luật đất đai năm 2003 quy định: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại 8 n đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này.
Tại định nghĩa này mặc dù đã khái quát được những nội dung cơ bản nhất của việc thu hồi đất đó là việc Nhà nước ra quyết định hành chính, điều này thể hiện tính mệnh lệnh phục tùng đặc điểm đặc trưng của quyết định hành chính, định nghĩa cũng thể hiện được việc thu hồi đất là thu hồi lại quyền sử dụng đất hoặc thu hồi lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn… đây là điểm thể hiện hạn chế của định nghĩa bởi việc thu hồi đất đã giao ngoài các chủ thể được đề cập còn thu hồi đất đã giao của hộ gia đình, cá nhân. Vậy khi Nhà nước thu hồi đất của cá nhân, hộ gia đình thì việc thu hồi đất được xử lý như thế nào, rõ ràng đối với nội dung này, Luật đất đai năm 2003 với các văn bản hướng dẫn luật không có sự thống nhất. Nhận thấy những điểm hạn chế này, thông qua thực tiễn thực hiện và yêu cầu của nền kinh tế. Để đất nước hội nhập nhanh chóng với xu thế phát triển của thế giới, theo kịp các nước phát triển trong khu vực, bắt buộc Nhà nước phải nhanh chóng có những quyết sách phù hợp với thực tế, mà cụ thể là Nhà nước phải sửa đổi những điểm chưa phù hợp của luật và các văn bản hướng dẫn luật trong đó có Luật đất đai năm 2003.
Việc sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là điều tất yếu, bởi một trong những điều kiện để nền kinh tế quốc gia phát triển đó là thu hồi các nguồn vốn đầu tư và nước ta. Mà một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư là điều kiện chính sách của Quốc gia cũng như của địa phương về thu hút đầu tư. Khi các quy định về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói chung cũng chính là đối với đất nông nghiệp nói riêng được quy định cụ thể, phù hợp với xu thế, cân đối được quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên có liên quan thì việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ 9 n sẽ được tiến hành nhanh chóng, đem lại lợi ích cho các bên, góp phần ổn định an ninh xã hội và giúp kinh tế phát triển vững mạnh. Hơn nữa pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuế đất, được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng hợp pháp, Nhà nước phải có trách nhiệm bảo hộ quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, việc thu hồi đất trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.
Do vậy, để những quan điểm, chính sách về bồi thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trong các văn bản luật thay đổi phù hợp với điều kiện thực tế thì Nhà nước ta đã thực hiện việc sửa đổi đầu tiên ở đạo luật cao nhất của đất nước là Hiến pháp, cụ thể Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; Phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” 1. Trên cơ sở đó, Luật đất đai năm 2013 quy định như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”2. Mặc dù hiến pháp quy định Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân sử dụng trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh; Phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng điều này cũng được áp dụng đối với thu hồi đất nông nghiệp nhưng Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn luật lại bỏ cụm từ này.
Trên thực tế, cũng không có văn bản pháp luật nào quy định trường hợp thật cần thiết để Nhà nước thu hồi đất là như thế nào, thế nào là thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh? Thế nào là 1 Khoản 3 Điều 54 Hiến pháp năm 2013. 2 Khoản 11 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 10 n thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng, điều này vô hình trung đã dẫn đến nhiều trường hợp trong thực tế doanh nghiệp lớn xin quy hoạch để phát triển kinh tế doanh nghiệp nhưng lại được núp dưới vỏ bọc dự án phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia và thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất, còn doanh nghiệp nhỏ hay các cá nhân, hộ gia đình khác cũng đang hoạt động kinh tế, cũng đang trực tiếp sản xuất trên diện tích đất bị thu hồi để phát triển kinh tế gia đình, từ đó góp phần ổn định kinh tế địa phương lại không được xem trọng. Ở một khía cạnh khác, mặc dù Luật đất đai năm 2013 và các văn bản liên quan không quy định nhưng tác giả nhận thấy bản chất của việc Nhà nước thu hồi đất cũng gần giống với trường hợp trưng mua bởi trưng mua là việc ép buộc người có tài sản phải bán cho Nhà nước tài sản đó trong trường hợp nhất định, cũng giống như những trường hợp thuộc Nhà nước thu hồi đất, bằng quyết định thu hồi đất, chủ sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ bàn giao đất cho Nhà nước. Ở đây xét trường hợp Nhà nước thu hồi là đúng với quy định của pháp luật còn trường hợp thu hồi bất hợp pháp tức việc thu hồi đất không thuộc các trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì về bản chất người sử dụng đất không có trách nhiệm bàn giao đất cho Nhà nước.
Tuy nhiên, giữa trưng mua và trường hợp Nhà nước thu hồi đất có điểm khác nhau cơ bản, đó là khi trưng mua thì Nhà nước chỉ phải chi trả khoản tiền, tài sản tương ứng với giá trị thực tế của quyền sử dụng đất và tài sản bị trưng mua, còn khi thu hồi đất thì Nhà nước bồi thường khoản tiền hoặc diện tích đất có giá trị tương đương với giá trị quyền sử dụng đất, tài sản bị thu hồi, ngoài ra Nhà nước còn áp dụng cách chính sách hỗ trợ khác nhau nhằm đảm bảo cuộc sống sau thu hồi cho người bị thu hồi đất. Tương tự với trường hợp trưng mua thì Nhà nước cũng có thể áp dụng việc trưng dụng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất trong 11 n trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai. Đối với trưng dụng, không phải mọi trường hợp Nhà nước đều phải bồi thường thiệt hại, nếu không có thiệt hại xảy ra thì Nhà nước không phải bồi thường, mà chỉ phải bồi thường khi tài sản bị hủy hoại hoặc bị thiệt hại do mất thu nhập khi Nhà nước trưng dụng đất. Vậy khi tài sản trưng dụng bị hủy hoại thì vấn đề bồi thường không được quy định chi tiết trong Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn, Nhà nước chỉ bồi thường hay còn hỗ trợ khi tài sản bị hủy hoại, liệu giá trị bồi thường, hỗ trợ có giống với trường hợp Nhà nước thu hồi đất hay không? Trong điều kiện không có chiến tranh thì thời hạn trưng dụng không được xác định cụ thể ( điều kiện bình thường là 30 ngày) mà phụ thuộc vào tình hình chiến tranh nhưng vấn đề bồi thường trong trường hợp này cũng không được đặt ra, mặc dù pháp luật bảo hộ quyền sử dụng đất cho người dân.