Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp. Khi phát sinh tranh chấp, con đường giải quyết tại Tòa án nhân dân là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hữu hiệu. Để đảm bảo giải quyết vụ án chính xác, khách quan, tránh kéo dài thời gian và đúng thẩm quyền, việc áp dụng các biện pháp tố tụng như nhập, tách, chuyển vụ án dân sự (VADS) là yêu cầu thường xuyên trong thực tiễn xét xử.

Về mặt lịch sử lập pháp, các chế định này đã xuất hiện sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam: quy định "sự nhập nhiều vụ kiện" trong Bộ luật Dân sự và Thương sự năm 1972/1973; quy định "chuyển vụ án cho Tòa án khác" tại Điều 15 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; sau đó được hoàn thiện tại Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và hiện nay là Điều 41, Điều 42 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, các quy định hiện hành cùng các văn bản hướng dẫn áp dụng vẫn còn mang tính nguyên tắc, cô đọng, chưa đồng bộ và thiếu logic. Thực tiễn áp dụng cho thấy Tòa án các cấp còn lúng túng, chưa thống nhất về thẩm quyền ban hành quyết định, căn cứ nhập/tách vụ án cũng như thời hạn chuyển giao hồ sơ vụ án, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tiếp cận công lý của đương sự.

Khóa luận xác định 04 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Xây dựng được những vấn đề lý luận về nhập, tách, chuyển VADS trong tố tụng dân sự (TTDS) như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và hiệu quả thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về nhập, tách, chuyển VADS trong TTDS.
  3. Làm rõ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS năm 2015 về nhập, tách, chuyển VADS.
  4. Xây dựng cụ thể kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan về nhập, tách, chuyển VADS trong TTDS.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về nhập, tách, chuyển VADS trong TTDS; các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện các quy định này tại hệ thống Tòa án nhân dân trong những năm gần đây.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống quan điểm lý luận của các học giả pháp lý Việt Nam và các quy định pháp luật TTDS Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào các quy định của BLTTDS năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành; khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, các bản án, quyết định của Tòa án từ ngày 01/7/2016 đến năm 2023.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu chế định nhập, tách, chuyển đối với vụ án dân sự; không nghiên cứu thủ tục chuyển việc dân sự.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận pháp lý về quyền tài phán, quyền con người, quyền tiếp cận công lý và nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án. Tác giả tổng hợp, kế thừa quan điểm từ các học giả trong nước và quốc tế, tiêu biểu như phân tích của Montesquieu về tinh thần pháp luật, quan điểm của GS. Nguyễn Huy Đẩu (1962) về bản chất thủ tục tố tụng, định nghĩa tố tụng trong Từ điển Luật học Oxford (A dictionary of law, 1994), cùng các công trình nghiên cứu chuyên sâu của TS. Trần Anh Tuấn, PGS.TS. Bùi Thị Huyền, TS. Đặng Thanh Hoa, ThS. Vũ Hoàng Anh, Thái Chí Bình.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng pháp luật làm cơ sở phân tích bao gồm:

  • Sắc lệnh số 51/SL (1946) và Sắc lệnh số 85 (1950);
  • Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989;
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự các năm 2004, 2011 và 2015;
  • Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
  • Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC của TANDTC;
  • Các quy định so sánh của Bộ luật Tố tụng Dân sự Cộng hòa Pháp năm 1806 (Điều 97, Điều 362).

Phương pháp luận của công trình dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các cấu thành lý luận, nội dung từng điều luật và thực tiễn xét xử liên quan đến nhập, tách, chuyển VADS.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các nguồn tư liệu học thuật, giáo trình, bài báo chuyên ngành và các án lệ, quyết định tố tụng.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu sự phát triển của các quy phạm qua các thời kỳ lập pháp (1972, 1989, 2004, 2011, 2015) và so sánh pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với luật tố tụng của Pháp.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Rút ra các kết luận lý luận tổng quát và định hình các nhóm giải pháp từ những tình huống xét xử thực tế.
  • Phương pháp logic: Đánh giá tính thống nhất, tương thích giữa các điều luật trong BLTTDS năm 2015 và phát hiện các mâu thuẫn, xung đột quy phạm.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình đại học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học, các bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghề Luật, Cổng thông tin điện tử ngành Kiểm sát và Tòa án, cùng các hồ sơ vụ án thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhập, tách, chuyển vụ án dân sự trong tố tụng dân sự

Chương 1 xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở khoa học của các chế định nhập, tách, chuyển VADS. Tác giả phân tích nguồn gốc thuật ngữ từ góc độ ngôn ngữ học và khoa học pháp lý:

  • Nhập vụ án dân sự: Là việc Tòa án tự mình căn cứ quy định pháp luật TTDS gộp hai hoặc nhiều tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động đã được thụ lý riêng biệt để giải quyết trong cùng một vụ án dân sự nhằm giải quyết triệt để, dứt điểm và tiết kiệm thời gian.
  • Tách vụ án dân sự: Là việc Tòa án tự mình căn cứ quy định pháp luật TTDS chia các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự đã thụ lý trong cùng một vụ án thành các vụ án độc lập để giải quyết nhanh chóng, bảo vệ quyền lợi đương sự.
  • Chuyển vụ án dân sự: Là việc Tòa án căn cứ quy định pháp luật TTDS chuyển hồ sơ, tài liệu của vụ án mà Tòa án đó đã thụ lý nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết cho Tòa án có thẩm quyền nhằm bảo đảm xét xử đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định.

Chương này chỉ ra 04 đặc điểm cốt lõi: (1) Được thực hiện khi có căn cứ theo quy định của pháp luật; (2) Chủ thể có thẩm quyền thực hiện là Tòa án; (3) Được tiến hành sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án dân sự; (4) Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm giải quyết dứt điểm các quan hệ pháp luật có tranh chấp.

Chế định Bản chất hành vi Điều kiện chủ thể & thời điểm Mục đích tố tụng
Nhập VADS Gộp $\ge 2$ vụ án đã thụ lý riêng biệt thành 01 vụ án duy nhất. Tòa án thực hiện; sau khi đã thụ lý vụ án riêng biệt. Tránh mâu thuẫn phán quyết, tiết kiệm chi phí, giải quyết triệt để quan hệ liên quan.
Tách VADS Chia 01 vụ án có nhiều yêu cầu thành các vụ án độc lập. Tòa án thực hiện; sau khi thụ lý vụ án có nhiều yêu cầu phức tạp. Tháo gỡ ách tắc, giải quyết sớm phần việc đã đủ chứng cứ, bảo đảm thời hạn.
Chuyển VADS Chuyển hồ sơ vụ án đã thụ lý sang Tòa án khác có thẩm quyền. Tòa án đã thụ lý thực hiện; phát hiện không thuộc thẩm quyền giải quyết. Đảm bảo đúng thẩm quyền theo loại việc, cấp Tòa án và lãnh thổ; tránh vi phạm nghiêm trọng thủ tục.

Bên cạnh đó, chương 1 phân tích ý nghĩa của các quy định đối với Nhà nước, đương sự, Tòa án và các cơ quan liên quan; xác lập các cơ sở khoa học dựa trên yêu cầu bảo đảm quyền con người, tính chất của quan hệ pháp luật nội dung, yêu cầu giải quyết nhanh chóng - triệt để và thực tiễn xét xử; đồng thời chỉ rõ 03 điều kiện bảo đảm: chất lượng hệ thống pháp luật, trách nhiệm và tính độc lập của người tiến hành tố tụng, và nhận thức pháp luật của đương sự.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về nhập, tách, chuyển vụ án dân sự trong tố tụng dân sự

Chương 2 tập trung phân tích sâu các quy định thực định trong BLTTDS năm 2015, đối chiếu với các quy định lịch sử và thực tiễn xét xử để làm rõ những khoảng trống pháp lý:

  • Điều kiện nhập, tách VADS: Điều 42 BLTTDS năm 2015 quy định điều kiện nhập vụ án là phải có từ hai vụ án trở lên đã thụ lý riêng biệt và việc nhập phải "bảo đảm đúng pháp luật", nhưng không có quy định định lượng cụ thể thế nào là đúng pháp luật. Đối với việc tách vụ án, điều kiện tách các yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố chưa được làm rõ về tiêu chí "không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án".
  • Thực trạng căn cứ chuyển vụ án theo lãnh thổ và theo cấp: Tác giả chỉ ra bất cập khi xử lý trường hợp chuyển đổi từ việc dân sự sang vụ án dân sự theo khoản 5 Điều 397 BLTTDS năm 2015 (đình chỉ thuận tình ly hôn để thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình). Dẫn chứng tình huống thực tế: Vụ việc ly hôn giữa chị V và anh P tại TAND huyện N (Thành phố H), sau khi chuyển sang vụ án có tranh chấp đã dẫn đến xung đột thẩm quyền theo lãnh thổ với TAND thành phố T (tỉnh B) theo Điều 39 và Điều 41 BLTTDS năm 2015 do thiếu cơ chế xác định rõ thẩm quyền nơi cư trú của bị đơn. Về thẩm quyền theo cấp, mối quan hệ chỉ đạo hành chính theo chiều dọc khiến Tòa án cấp huyện gặp khó khăn khi chuyển vụ án lên TAND cấp tỉnh khi phát sinh yếu tố mới.
  • Thời điểm nhập, tách, chuyển và cách tính thời hạn chuẩn bị xét xử: BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể thời điểm Thẩm phán hay Hội đồng xét xử (HĐXX) được phép nhập/tách vụ án, dẫn đến bế tắc khi áp dụng thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203.
    • Vụ việc nhập vụ án: Vụ án bà B kiện ông L đòi nợ vay (thụ lý ngày 05/8/2013) và bà D kiện ông L đòi nợ vay có thế chấp quyền sử dụng đất (thụ lý ngày 04/10/2013). Khi Tòa án ra quyết định nhập ngày 16/10/2013, thực tiễn nảy sinh 03 luồng quan điểm khác nhau về việc tính ngày thụ lý để tính thời hạn chuẩn bị xét xử (tính từ ngày thụ lý vụ đầu, ngày thụ lý vụ sau cùng, hay ngày ban hành quyết định nhập).
    • Vụ việc tách vụ án: Vụ án ông Trần Văn L kiện vợ chồng ông Lê Văn H, bà Võ Thị T (thụ lý ngày 09/8/2013) yêu cầu trả nợ 150 triệu đồng và tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng $3.600\text{ m}^2$ đất. Quyết định tách ngày 05/11/2013 gây tranh cãi về việc lấy ngày tách làm ngày thụ lý mới hay vẫn phải tính từ ngày thụ lý ban đầu.
  • Khoảng trống về thời hạn chuyển giao và thụ lý lại hồ sơ: BLTTDS năm 2015 thiếu quy định chế tài về thời hạn Tòa án chuyển phải gửi hồ sơ và thời hạn Tòa án nhận phải thụ lý lại. Điển hình là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị P và chị Q tại TAND huyện A (tỉnh B) chuyển sang TAND huyện G (tỉnh T) năm 2017: Tòa án chuyển ban hành quyết định ngày 15/8/2017, Tòa án nhận nhận hồ sơ ngày 25/8/2017 nhưng đến ngày 10/10/2017 mới vào sổ thụ lý (chậm trễ gần 2 tháng do tâm lý tránh thụ lý án mới sát tháng 9 tổng kết thi đua).
  • Thẩm quyền ban hành quyết định: Khoản 3 Điều 42 BLTTDS năm 2015 quy định chung chung "Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định", dẫn đến tranh chấp quan điểm giữa thẩm quyền của Chánh án Tòa án (theo tinh thần Giải đáp 01/2017/GĐ-TANDTC và Điều 47) với Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án (Điều 48). Tại phiên tòa sơ thẩm, sự phối hợp thẩm quyền giữa Thẩm phán và HĐXX khi phát sinh căn cứ chuyển vụ án theo khoản 2 Điều 235 vẫn chưa được hướng dẫn rõ ràng.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nhập, tách, chuyển vụ án dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 tổng kết tình hình xét xử giai đoạn 2015–2022, đánh giá những kết quả đạt được cùng những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các nhóm kiến nghị cụ thể:

  • Thực trạng áp dụng thực tế: Tồn tại hiện tượng lạm dụng việc tách vụ án để kéo dài thời hạn xét xử hoặc chia nhỏ vụ án nhằm giảm tải áp lực chỉ tiêu; tình trạng đùn đẩy thẩm quyền khi chuyển vụ án giữa các địa hạt tư pháp; việc thiếu thống nhất trong xác định thời hạn chuẩn bị xét xử làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, bị đơn.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Bổ sung quy định chi tiết tại Điều 41 và Điều 42 BLTTDS năm 2015: Quy định rõ thời điểm nhập, tách vụ án có thể được tiến hành ở cả giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm; phân định rõ thẩm quyền ban hành quyết định thuộc về Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và thuộc về HĐXX tại phiên tòa sơ thẩm.
    • Sửa đổi quy định về thời hạn tố tụng: Quy định thời hạn chuẩn bị xét xử khi nhập vụ án được tính theo thời hạn của vụ án được thụ lý sau cùng; khi tách vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử của từng yêu cầu bị tách được tính từ thời điểm thụ lý chính yêu cầu đó.
    • Bổ sung quy định bắt buộc về thời hạn chuyển hồ sơ (trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định chuyển có hiệu lực) và thời hạn Tòa án nhận phải vào sổ thụ lý vụ án (không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ).
    • TANDTC cần ban hành Nghị quyết chuyên đề hướng dẫn chi tiết các tiêu chí "bảo đảm đúng pháp luật" khi nhập vụ án và hướng dẫn giải quyết xung đột thẩm quyền giữa khoản 5 Điều 397 và Điều 39 BLTTDS năm 2015.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc tổng hợp các dữ liệu thực tế và phân tích pháp lý:

  • Làm rõ tiến trình lập pháp điều chỉnh các hoạt động nhập, tách, chuyển VADS qua các giai đoạn từ năm 1946 đến BLTTDS năm 2015, khẳng định tính tất yếu khách quan của các chế định này trong hệ thống tư pháp dân sự.
  • Nhận diện và hệ thống hóa các bất cập, mâu thuẫn quy phạm trong BLTTDS năm 2015, đặc biệt là sự thiếu vắng quy định về thẩm quyền ký quyết định, thời điểm thực hiện và chế tài ràng buộc thời hạn chuyển giao hồ sơ vụ án.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và hướng dẫn áp dụng thống nhất, bao gồm:
    1. Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn cụ thể Điều 41, Điều 42 BLTTDS năm 2015.
    2. Quy định rõ cơ chế tính thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 khi có quyết định nhập/tách vụ án.
    3. Xác lập chế tài thời gian đối với hoạt động chuyển và thụ lý lại vụ án nhằm ngăn chặn hiện tượng trì hoãn thụ lý hồ sơ vì mục tiêu thi đua cuối năm công tác.
    4. Hoàn thiện quy định phối hợp thẩm quyền giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh trong trường hợp phát sinh tình tiết làm thay đổi thẩm quyền xét xử.

Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã khắc phục được sự phân tán của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ khảo sát riêng rẽ từng chế định hoặc chỉ bình luận so sánh điều luật thuần túy) bằng cách đặt cả ba hoạt động nhập, tách, chuyển VADS trong một chỉnh thể liên kết logic, gắn chặt với quyền tiếp cận công lý và tính hiệu quả của nền tài phán dân sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu đã xác định:

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các tranh chấp thuộc nhóm vụ án dân sự (theo nghĩa rộng gồm dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động), chưa đi sâu phân tích chế định chuyển việc dân sự và các thủ tục giải quyết việc dân sự có yếu tố phi tranh chấp. Dữ liệu thực tiễn và các vụ việc điển hình tập trung chủ yếu từ sau khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực (từ 01/7/2016 đến năm 2023).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu toàn diện về cơ chế chuyển giao giữa việc dân sự và vụ án dân sự, thủ tục nhập/tách đối với các yêu cầu giải quyết việc dân sự, cũng như nghiên cứu so sánh sâu hơn với kinh nghiệm lập pháp tố tụng dân sự của các quốc gia theo hệ thống thông luật (Common Law) và dân luật (Civil Law).

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh ngành Luật: Đặc biệt là chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu chuyên đề về thẩm quyền của Tòa án và các giai đoạn tố tụng sơ thẩm.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên: Tham khảo cơ sở lý luận và các phân tích tình huống thực tế để xử lý các vướng mắc nghiệp vụ khi nhập nhiều vụ án phức tạp, tách yêu cầu phản tố/độc lập, hoặc xử lý các tranh chấp thẩm quyền theo lãnh thổ và theo cấp.
  • Luật sư và người tham gia tố tụng: Cung cấp luận cứ pháp lý nhằm giám sát hoạt động tố tụng của Tòa án, thực hiện quyền khiếu nại, kiến nghị khi các quyết định nhập, tách, chuyển vụ án có dấu hiệu vi phạm thời hạn hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm nhập, tách và chuyển vụ án dân sự được định nghĩa như thế nào trong khóa luận? Nhập VADS là việc Tòa án tự mình gộp hai hoặc nhiều vụ án đã thụ lý riêng biệt để giải quyết trong cùng một vụ án. Tách VADS là việc Tòa án chia các tranh chấp trong cùng một vụ án đã thụ lý thành các vụ án độc lập. Chuyển VADS là việc Tòa án chuyển hồ sơ vụ án đã thụ lý nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết sang Tòa án có thẩm quyền theo luật định.

2. Bất cập phát sinh khi chuyển từ việc dân sự thuận tình ly hôn sang vụ án dân sự theo khoản 5 Điều 397 BLTTDS năm 2015 là gì? Khi hòa giải không thành và các bên phát sinh tranh chấp về nuôi con hoặc tài sản, Tòa án thụ lý việc dân sự phải đình chỉ việc dân sự và thụ lý vụ án để giải quyết. Tuy nhiên, nếu Tòa án này không phải là nơi cư trú của bị đơn, luật chưa quy định rõ Tòa án đang thụ lý phải tiếp tục giải quyết hay phải ra quyết định chuyển vụ án về Tòa án nơi bị đơn cư trú theo Điều 39 và Điều 41, dẫn đến xung đột thẩm quyền giữa các Tòa án địa phương (như tình huống tranh chấp thẩm quyền giữa TAND huyện N và TAND thành phố T).

3. Vì sao việc tính thời hạn chuẩn bị xét xử khi nhập hoặc tách vụ án lại gây nhiều tranh luận? Do Điều 203 BLTTDS năm 2015 không có quy định riêng cho trường hợp nhập/tách vụ án, thực tiễn xét xử chia thành nhiều quan điểm: khi nhập vụ án, có quan điểm tính từ ngày thụ lý vụ đầu tiên, có quan điểm tính từ ngày thụ lý vụ sau cùng, có quan điểm tính từ ngày ra quyết định nhập. Khi tách vụ án, có Tòa án tính từ ngày ra quyết định tách (coi là thụ lý mới), có nơi tính từ ngày thụ lý ban đầu của yêu cầu đó.

4. Khoảng trống pháp lý nào trong BLTTDS năm 2015 dẫn đến hiện tượng chậm trễ khi chuyển giao hồ sơ vụ án? Luật hiện hành chưa ấn định thời hạn cụ thể buộc Tòa án ra quyết định chuyển phải chuyển hồ sơ đi và thời hạn Tòa án nhận được hồ sơ phải vào sổ thụ lý lại. Điều này dẫn đến tình trạng Tòa án nhận hồ sơ trì hoãn thụ lý (như vụ án tại TAND huyện G kéo dài gần 2 tháng mới thụ lý) nhằm tránh ảnh hưởng đến chỉ tiêu thi đua cuối năm công tác.

5. Vướng mắc chính về thẩm quyền ban hành quyết định nhập, tách vụ án theo Điều 42 BLTTDS năm 2015 là gì? Khoản 3 Điều 42 chỉ quy định chung "Tòa án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định" mà không chỉ rõ là Chánh án hay Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Trong khi Điều 47 quy định thẩm quyền tổ chức giải quyết án cho Chánh án thì Thẩm phán lại là người trực tiếp nắm giữ hồ sơ và chứng cứ; đồng thời luật chưa xác định thẩm quyền của HĐXX khi việc nhập/tách/chuyển phát sinh ngay tại phiên tòa sơ thẩm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Anh Đức đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực trạng pháp lý về chế định nhập, tách, chuyển vụ án dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam. Thông qua việc phân tích các bất cập thực tế và dẫn chứng án lệ cụ thể, công trình chỉ rõ những khoảng trống về thời hạn, thẩm quyền ban hành quyết định và xung đột thẩm quyền theo lãnh thổ trong BLTTDS năm 2015. Các kiến nghị sửa đổi luật và đề xuất ban hành Nghị quyết hướng dẫn của tác giả có tính khoa học, thiết thực, góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và nâng cao hiệu quả xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân.