CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu. Trên thế giới. Cắt amidan là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất và được thực hiện nhiều nhất trong chuyên ngành Tai mũi họng, là một trong số rất ít phẫu thuật được biết đến từ thời trước Công nguyên, vẫn còn tồn tại và phổ biến đến hiện tại, được mô tả ở Ấn Độ cổ xưa từ cách đây khoảng 3000 năm, được Celsus mô tả lần đầu vào năm 50 sau Công nguyên.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, cắt amidan được coi là phẫu thuật thường quy, được thực hiện ít nhất 80.000 học sinh mỗi năm ở Anh7. Trong 10 năm từ 2003 đến 2012, tổng số 3.936 ca cắt amidan đã được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Norfolf và Norwich là 1.501 ca (38%) ở người lớn và 2. Sau đó, phẫu thuật cắt amidan ngày càng được hoàn thiện hơn. Năm 1930: Fowler (Hoa Kỳ) đưa ra phương pháp: “Cắt bỏ toàn bộ amidan mà không làm tổn thương các tổ chức xung quanh”9.
Năm 1954: Sluder đưa ra phương pháp cắt amidan bằng dụng cụ dao lạnh mang tên ông10. Năm 1955: Angles đưa ra phương pháp cắt amidan bằng thòng lọng11. Năm 1990: OAS và Barteles (Vương quốc Anh) tiến hành cắt amidan bằng Laser12. Ethicon cắt amidan bằng dao siêu âm.
Năm 1994: Krepsi YP (Hoa Kỳ) nghiên cứu trên 84 trường hợp cắt amidan bằng Laser cho thấy không có biến chứng chảy máu sớm hay muộn, bệnh nhân trở lại làm việc và học tập trong vòng 12 - 24h12. Năm 1997: Akkielah thực hiện cắt amidan bằng dao điện. 4 Năm 1998: Ca phẫu thuật cắt amidan bằng dao plasma được thực hiện lần đầu tiên. Năm 2002: Koltai và cộng sự cắt amidan bằng Microdebrider.
Năm 2002: Timmes cắt amidan bằng Coblator và so sánh kết quả với cắt bằng dao điện. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào đánh giá kết quả sau phẫu thuật cắt amidan, so sánh các phương pháp phẫu thuật nhằm tìm ra phương pháp có nhiểu ưu điểm nhất. Ở Anh, năm 2006, Belloso A và cộng sự nghiên cứu trên 41 bệnh nhân được cắt amidan bằng Coblator và Laser palatoplasty để điều trị chứng ngáy ngủ, kết quả cho thấy nhóm cắt bằng Coblator sau phẫu thuật ít đau hơn hẳn so với nhóm cắt bằng Laser5. Năm 2007, tác giả người Anh Singh A và cộng sự nghiên cứu 43 bệnh nhân trẻ em có chỉ định cắt amidan do viêm mạn tính và hội chứng tắc nghẽn đường thở bằng hai phương pháp dao Plasma và dao điện lưỡng cực (Bipolar) thấy lượng máu mất trong mổ và thời gian phẫu thuật như nhau nhưng ở nhóm dùng dao Plasma thấy biến chứng đau sau mổ giảm hơn so với nhóm dùng Bipolar13.
Năm 2005, Lachanas và cộng sự so sánh các thông số liên quan đến cắt amidan bằng LigaSure (LT) với cắt amidan bằng dao lạnh (CKT), một nghiên cứu tiến cứu được thực hiện trên 200 bệnh nhân trưởng thành (trong đó có 108 bệnh nhân nhóm LT và 92 bệnh nhân nhóm CKT). Kết quả cho thấy ở nhóm LT, không có chảy máu trong mổ đo được, trong khi chảy máu trung bình ở nhóm CKT là 125ml. Thời gian phẫu thuật trung bình là 15 ± 1,43 phút đối với nhóm LT và 21 ± 1,09 phút đối với nhóm CKT. Điểm đau trung bình của nhóm LT là 3,63 điểm, trong khi đối với nhóm CKT là 5,09 điểm.
Điều này cho thấy mức độ chảy máu, thời gian phẫu thuật và mức độ đau của nhóm LT ít hơn so với nhóm CKT14. 5 Vào 9/2009, một nghiên cứu tại khoa Tai mũi họng, khoa Giải phẫu, khoa Y, Đại học Chulalongkorn, Băng Cốc, Thái Lan, tác giả Hirunwiwatkul P đã so sánh lượng máu mất trong mổ, thời gian mổ, cơn đau sau mổ và bất lợi sau mổ giữa cắt amidan bằng dao Ligasure và dao lạnh trên 23 bệnh nhân, được cắt ngẫu nhiên hai bên, một bên cắt bằng Ligasure và bên còn lại bằng dao lạnh, kết quả cho thấy cắt amidan bằng dao Ligasure tốt hơn dao lạnh về hiệu quả (mất máu trong mổ và thời gian mổ) nhưng không khác nhau về đau sau phẫu thuật15. Năm 2016, thiết bị BiZact chính thức được phê duyệt để sử dụng trên thị trường Úc, là một thiết bị mới để cắt amidan, đã có những nghiên cứu là những trải nghiệm lâm sàng đầu tiên với tay dao này, đánh giá về mức độ đau, chảy máu và thời gian bệnh nhân trở lại ăn uống sinh hoạt như bình thường. Một nghiên cứu thí điểm ở 186 trẻ em và người lớn với phẫu thuật cắt amidan bằng tay dao Bizact được trình bày tại Hội nghị khoa học thường niên về Tai mũi họng, Phẫu thuật Đầu và Cổ Úc (ASOHNS) tổ chức tại Perth, Tây Úc từ ngày 9 - 11/3/2018 do Eng Ooi và Suren Krishnan đồng tác giả, và được xuất bản lần đầu vào 21/12/2018.
Kết quả cho thấy tỷ lệ chảy máu sau phẫu thuật là 4,3% tương tự như tỷ lệ được mô tả bởi các nghiên cứu khác. Cắt amidan với tay dao BiZact cho phép rút ngắn thời gian phẫu thuật dưới tay cả bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm và bác sĩ đang được đào tạo với thời gian trung bình là 5,1 phút (khoảng 1,5 - 26,5 phút), lượng máu mất dưới 1ml được quan sát thấy ở 71 (38,2%) trường hợp và từ 1 ‐ 10ml được quan sát thấy ở 81 (43,5%) trường hợp trong báo cáo này16. Một nghiên cứu trên 17 trường hợp được cắt amidan bằng tay dao BiZact ở Mỹ, kết quả cho thấy chảy máu trong phẫu thuật trung bình là 7,3ml, so với kết quả tài liệu đã công bố đối với thiết bị Coblator là 10,83ml và đốt điện 27,08ml và dao lạnh là 125ml. Thời gian phẫu thuật trung bình trong 17 6 ca đối với thiết bị cắt amidan BiZact là 9,35 phút, so với kết quả tài liệu đã công bố đối với đốt điện là 14,8 phút cho trẻ em, 20,5 phút cho người lớn và thiết bị Coblator là 16,32 phút.
Thiết bị Bizact đã được chứng minh là tạo ra sự lan tỏa nhiệt <1 mm, nhưng chưa được đánh giá trực tiếp về việc giảm đau. Qua đó cho thấy mức độ chảy máu trong phẫu thuật và thời gian phẫu thuật khi cắt amidan với thiết bị BiZact thấp hơn so với Coblator, đốt điện và dao lạnh17. Vào tháng 4/2018, một nghiên cứu khả thi đầu tiên của Vương quốc Anh do tác giả Dwyer - Hemmings, Louis trên 12 bệnh nhi từ 3 - 15 tuổi được cắt amidan bằng tay dao BiZact, một trong những phẫu thuật thường xuyên nhất ở Anh. Tác giả nhận định rằng, cắt amidan cho trẻ em bằng tay dao này là một kỹ thuật an toàn và hiệu quả.
Họ đã chứng minh không mất máu, không có biến chứng chảy máu và điểm số đau thấp (điểm đau trung bình là 3,52 điểm, cao nhất vào ngày thứ 4 sau mổ), không có ca nào được báo cáo là xuất viện chậm hoặc biến chứng nguyên phát hay thứ phát 18. Một nghiên cứu phân tích dữ liệu hồi cứu 73 ca bệnh nhân được cắt amidan với dụng cụ Bizact từ 6/2018 đến tháng 10/2019 của tác giả Falz H tại Catholic Marienkrankenhaus Hamburg, Đức về thời gian mổ, mất máu sau mổ, đau sau mổ từ ngày 1 - 4 và tỉ lệ chảy máu lại sau mổ được ghi lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 68 bệnh nhân trên 18 tuổi được đưa vào phân tích với tỉ lệ 76,5% nữ và 23,5% nam với độ tuổi trung bình 27,5 tuổi thì thời gian phẫu thuật trung bình là 5,6 phút. Tỷ lệ mất máu ở các nhóm ≤ 10ml, ≤ 50ml và ≤ 100ml lần lượt là 27,9% (19/68 bệnh nhân), 14,7% (10/68 bệnh nhân) và 1,5% (1/68 bệnh nhân).
Điểm đau trung bình ngày 1 là 2,67 điểm, ngày 2 là 2 điểm, ngày 3 là 2,95 điểm và ngày 4 là 3,11 điểm. Chỉ có 30/68 ca có chảy máu trong mổ với phần lớn là mất máu dưới 10ml và 4 ngày đầu sau mổ đều là đau mức độ nhẹ. Kết quả trên cho thấy cắt amidan với tay dao 7 BiZact ít mất máu trong mổ và ít đau sau mổ. Đối với phương pháp bóc tách lạnh, cơn đau dữ dội hơn và thời gian phẫu thuật lâu hơn (trung bình 24 phút) đã được mô tả bởi Guntinas - Lichius năm 2016.
Trong một nghiên cứu của tác giả Sarny S người Áo năm 2012 cho kết quả là tỷ lệ chảy máu sau mổ là 14,4%19. Mazhar Celikoyar và Erkan Aktan ở khoa Tai Mũi Họng, bệnh viện Florence Nightingale, Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ báo cáo về 4 bệnh nhân được cắt amidan bằng tay dao BiZact, đó là một bé trai 4 tuổi, một bé gái 4 tuổi, một bệnh nhân nam 28 tuổi và một bệnh nhân nam 35 tuổi. Báo cáo này nêu lên rằng mặc dù số lượng trường hợp được nghiên cứu rất hạn chế, nhưng vẫn muốn chia sẻ kinh nghiệm về việc sử dụng Bizact là tay dao mới trong lĩnh vực cắt amidan, kết quả cho thấy giảm đáng kể thời gian phẫu thuật so với mổ bằng dao lạnh, mất máu trong phẫu thuật là giảm đáng kể nhưng thời gian điều trị sau phẫu thuật dài hơn so với dao plasma, đốt điện lưỡng cực, cắt lạnh20. Qua nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy phẫu thuật cắt amidan ngày nay ngày càng phát triển và đạt được nhiều thành tựu tiên tiến, phẫu thuật cắt amidan bằng tay dao BiZact cũng đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới với báo cáo ít tai biến, bệnh nhân chịu ít biến chứng hơn, khả năng hồi phục sau mổ và trở lại với chế độ ăn và sinh hoạt nhanh hơn nhiều so với trước đây.
Từ năm 1960 đến năm 2000, hai phương pháp chính để cắt amidan được sử dụng tại Việt Nam là phương pháp sử dụng Sluder và phương pháp sử dụng thòng lọng. Năm 2000, dao điện đơn cực được sử dụng để cắt amidan tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương. 8 Năm 2004, kỹ thuật cắt amidan bằng Coblator được áp dụng tại bệnh viện Nhi đồng I. Năm 2007, dao siêu âm được áp dụng cắt amidan tại bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2011, cắt amidan bằng Laser gold tại bệnh viện Bạch Mai. Năm 2012, dao Plasma được áp dụng cắt amidan tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Năm 2018, dao Ligasure được ứng dụng tại bệnh viện quốc tế Hải Phòng. Những năm gần đây, các tác giả Việt Nam tập trung đánh giá về kết quả của phẫu thuật cắt amidan với nhiều phương tiện khác nhau, đồng thời so sánh ưu nhược điểm khi cắt amidan của các phương tiện đó.
Lý Xuân Quang và Phạm Kiên Hữu năm 2007 đánh giá kết quả sử dụng sao mổ siêu âm trong cắt amidan21. Huỳnh Tấn Lộc năm 2010 đã đánh giá hiệu quả cắt amidan trong bao bằng dao điện lưỡng cực tại khoa TMH bệnh viện nhân dân Gia Định22.