CHƯƠNG I: TIẾNG TIM Phù ngoại biên Thăm khám các chi bằng động tác sờ là phương pháp phù hợp khi đánh giá phù Like what you see? ngoại vi. Có 2 type đó là phù ấn lõm, và phù ấn không lõm. Phù ấn lõm sẽ bị lõm khi ấn xuống, bởi vì khi làm động tác đó bạn đã đẩy dịch ra khỏi mô. Phù ấn lõm là một dấu hiệu của chức năng gan giảm sút hoặc suy tim.
Tình trạng suy giảm chức năng gan làm giảm albumin huyết thanh, từ đó áp lực keo huyết thanh bị giảm thấp cho phép nước từ mao mạch đi vào các mô. Suy tim gây gia tăng áp lực áp lực thủy tĩnh – hydrostatic pressure và cũng gây ra hậu quả tương tự. Quá tải dịch ở các chi cũng có thể gây ra phù lõm. Phù ấn không lõm là triệu chứng có cơ chế bệnh học hoàn toàn khác với phù ấn lõm, phù ấn không lõm liên quan đến các yếu tố chuyển hóa, dẫn đến sưng phù các mô dưới da.
Kỹ thuật Bắt đầu tại bàn tay, ấn nhẹ vào vùng mô mềm ở bàn tay, tiếp đó là lên cẳng tay cho đến khi nào không còn phát hiện phù nữa. Mức độ ấn lõm được đánh giá dựa theo bảng sau. 1+ Biểu hiện chỉ vừa đủ để phát hiện khi ta ấn ngón tay vào vùng da 2+ Lõm nhẹ, mất 15s để hồi phục trở lại 3+ Lõm sâu, mấu 30s để hồi phục trở lại 4+ Mất hơn 30s để hồi phục trở lại Ghi nhận phù theo mức độ tại điểm cao nhất phát hiện được triệu chứng (ví dụ phù ấn lõm độ 2+ tại điểm cao nhất của phần giữa cẳng tay). Tiến hành như vậy ở chi dưới.
Phù ấn lõm thường xảy ra ở cẳng chân và bàn chân trước khi tình trạng này nặng dần và gây phù ở bàn tay và mặt. Diện đập mạch nhất (của tim) - Point of Maximal Impulse (PMI) Kỹ thuật Đặt trung tâm của lòng bàn tay tại diện đập mạnh nhất, sao các ngón ôm phía ngoài lồng ngực của bệnh nhân và phần gan tay tại bờ của xương ức Áp một lực lên thành ngực cho đến khi cảm nhận thấy nhịp tim trong bàn tay của bạn. Xác định diện đập mạnh nhất trên thành ngực, thường là một vùng nhỏ rộng khoảng 1cm có cảm giác rung ở bàn tay mạnh nhất. Béo phì có thể làm quá trình đánh giá PMI trở nên khó khăn.
Nhắc lại, PMI ở người khỏe mạnh sẽ nằm tại gian sườn năm trên đường trung đòn trái. PMI của một tâm thất dãn sẽ bị di lệch ra ngoài Rung miu Rung miu có thể được phát hiện nếu như có một bệnh lý van tim. Rung miu do Well prepared for the dòng máu xoáy đi qua một van tim bất thường tạo ra. Rung miu thường nằm exams? Try out the: gần điểm nghe được tiếng thổi của van bất thường.
Question bank 23 Chương 2: Tăng huyết áp Chương 2: Tăng huyết áp Những kiến thức quan trọng nhất về Tăng huyết áp Chương 2: Tăng huyết áp Định nghĩa của tăng huyết áp: • Định nghĩa JNC 8: huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và / hoặc huyết áp tâm trương 90 mmHg • Định nghĩa AHA / ACC (2017): huyết áp tâm thu ≥ 130 mmHg và / hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg Dịch tễ của tăng huyết áp: Khoảng 75% dân số thế giới có thể bị tăng huyết áp. Trong số 75% này, khoảng một nửa là không biết về nó. Hơn nữa, có tới 50% những người được điều trị chống tăng huyết áp không đạt được sự kiểm soát tốt về huyết áp. Tỷ lệ tăng huyết áp tăng theo tuổi và trọng lượng cơ thể.
Nguyên nhân của tăng huyết áp: Theo nguyên nhân, tăng huyết áp được chia thành 2 loại, tăng huyết áp nguyên phát (còn gọi là tăng huyết áp thiết yếu) và tăng huyết áp thứ phát. Tăng huyết áp nguyên phát Hơn 90% bệnh nhân tăng huyết áp là tăng huyết áp nguyên phát. Loại tăng huyết áp này là vô căn hoặc không có nguyên nhân nào được biết. Chẩn đoán được thực hiện thông qua nguyên tắc loại trừ.
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng huyết áp nguyên phát là: • Các yếu tố dinh dưỡng như: thừa cân, uống rượu và chế độ ăn giàu natri • Stress • Hút thuốc lá • Lớn tuổi • Tình trạng kinh tế xã hội thấp Tăng huyết áp thứ phát Có một số yếu tố gây tăng huyết áp thứ phát: • Nguyên nhân thần kinh, tâm sinh lý và do điều trị; còn có các biện pháp tránh thai, thuốc NSAR, ma túy và các chất độc hại như cam thảo • Các bệnh lý như hội chứng ngưng thở khi ngủ, co thắt động mạch chủ và xơ vữa động mạch Thận (do loạn sản sợi cơ, bệnh nhu mô thận-PKD, bệnh thận đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch; thuốc ức chế men chuyển có thể gây suy thận) và tăng huyết áp do nội tiết (gây ra bởi cường aldosterone nguyên phát hoặc thứ phát, u tế bào ưa crôm, hội chứng Cushing, nhiễm độc giáp, cường cận giáp) cũng được coi là tăng huyết áp thứ phát. Cơ chế tăng huyết áp do mạch thận chủ yếu là do thiếu máu cục bộ thận. Hẹp động mạch thận dẫn đến tăng mức renin và angiotensin I và II, và có liên quan đến tăng co mạch, do đó tăng huyết áp và tăng trương lực giao cảm. Sản xuất aldosterone cũng tăng ở những bệnh nhân này, dẫn đến tăng giữ natri.
Việc giữ natri tăng lên có liên quan đến việc giữ nước tăng và có thể đi ra thể tích máu ngoại bào. Sự tương tác giữa 2 cơ chế này là nguyên nhân chính gây tăng huyết áp ở nhóm bệnh nhân này. 26 Chương 2: Tăng huyết áp A B C D Hình 2-01: Hội chứng Cushing: Giảm glucose đói, bứu trâu, (A) khuôn mặt hình mặt trăng, (B) Lằn bụng; cortisol nước tiểu 24h hoặc ức chế dexamethasone liều cao; (C) Chụp mạch: hẹp động mạch thận ; (D) ‘chuỗi hạt’ trên mạch đồ đặc trưng của chứng loạn sản cơ Tăng huyết áp thứ phát được đặc trưng bởi những thay đổi đột ngột về HA và khởi phát trước tuổi 30 hoặc sau tuổi 55. Một loại tăng huyết áp khác là bệnh tăng huyết áp thai kỳ.
Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi mẹ lớn và đa thai. Bệnh tăng huyết áp thai kỳ được chia thành: • Tăng huyết áp thai kỳ (tăng huyết áp không liên quan đến protein niệu) • Tiền sản giật (tăng huyết áp liên quan đến protein niệu) • Sản giật (tiền sản giật với ít nhất 1 đợt co giật do rối loạn nhịp não) 27 Chương 2: Tăng huyết áp Phân loại tăng huyết áp: Tăng huyết áp được chia thành nhiều giai đoạn. Tăng huyết áp do gắng sức thể chất không được coi là tăng huyết áp. Theo Đại học Tim mạch Hoa Kỳ (ACC) đã cập nhật các hướng dẫn để xác định tăng huyết áp theo 4 giai đoạn khác nhau như sau: HA tâm thu HA tâm trương Thuật ngữ Những lưu ý (mmHg) (mmHg) Bình thường < 120 < 80 Tăng 120–129 và < 80 Độ 1 130–139 hoặc 80–89 Cần điều trị Độ 2 140–79 hoặc 90 hoặc hơn Cần điều trị Cơn tăng > 180 hoặc > 120 Cần phải uống thuốc huyết áp kiểm soát huyết áp ngay lập tức hoặc nhập viện.
Cơn tăng huyết áp có thể được chia thành 2 loại: tăng huyết áp khẩn cấp và tăng huyết áp cấp cứu. Cái trước khác với cái sau ở chỗ không có tổn thương cơ quan trong trường hợp tăng huyết áp khẩn cấp trong khi tăng huyết áp cấp cứu luôn phải xem xét tổn thương cơ quan đích như bệnh não, xuất huyết/thiếu máu cục bộ, xuất huyết/phù nề võng mạc, CHF, ACS, bóc tách động mạch chủ, ARF, tiểu máu, hoặc MAHA. Có nhiều cách tiếp cận điều trị khác nhau cho 2 loại của cơn tăng huyết áp này. Trong trường hợp tăng huyết áp khẩn cấp, HA nên được giảm từ từ, trong nhiều giờ hoặc nhiều ngày.
Trong trường hợp tăng huyết áp cấp cứu, nên giảm 25% HA sau vài phút đến vài giờ với các thuốc truyền tĩnh mạch: NTG, nitroprusside. Sinh lý bệnh của tăng huyết áp: Tăng huyết áp do sự rối loạn của cơ chế điều tiết giữ cho huyết áp ổn định. Rối loạn bao gồm tăng sức cản mạch ngoại biên, tăng cung lượng tim hoặc kết hợp cả hai. Trong quá trình phát triển bệnh, một số cơ chế bù trừ diễn ra để luôn giữ huyết áp ở mức cao.
Để duy trì cung lượng tim, cơ tim phì đại giúp chịu được áp lực tăng dai dẳng. Các mạch máu còn lại cũng trải qua phì đại. Baroreceptor nằm trong thành mạch máu phát hiện huyết áp cao, kích hoạt cái gọi là phản xạ baroreceptor, dẫn đến giá trị HA cao hơn được dịch là ‘bình thường“. Thận cũng tham gia vào quá trình bù trừ này.
Nói chung mặc dù lưu lượng máu ở thận và tốc độ lọc của cầu thận không đổi, tăng bài tiết natri liên tục, đồng hành với việc tăng huyết áp là để chống lại chứng tăng huyết áp. 28 Chương 2: Tăng huyết áp Đặc điểm lâm sàng của tăng huyết áp: Các triệu chứng tăng huyết áp động mạch thường biểu hiện như sau. Các triệu chứng điển hình bao gồm: • Nhức đầu buổi sáng • Rối loạn giấc ngủ, chóng mặt • Chảy máu mũi • Tiếng chuông trong tai • Triệu chứng tim mạch không đặc hiệu • Đánh trống ngực Lưu ý: Khi mà tăng huyết áp Trong trường hợp tăng huyết áp thứ phát, các triệu chứng của bệnh nền sẽ đi thường không có triệu chứng, kiểm tra thường kèm với bệnh tăng huyết áp. xuyên là cần thiết để ngăn ngừa tổn thương cơ quan Dưới nhóm và biến thể của tăng huyết áp đích.
Các dạng đặc biệt của tăng huyết áp là tăng huyết áp văn phòng đơn độc và tăng huyết áp lưu động đơn độc. Tăng huyết áp áo choàng trắng (Hiệu ứng áo choàng trắng): • Được gọi là tăng huyết áp văn phòng đơn độc và còn được gọi là tăng huyết áp áo choàng trắng, biến thể này được đặc trưng bởi các lần đo ≥ 140/90 mmHg tại cơ sở y tế, trong khi các lần đo tại nhà và trong quá trình theo dõi huyết áp là bình thường • Chẩn đoán thông qua theo dõi huyết áp 24 giờ 2. Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: • Được xác định là tăng huyết áp tâm thu (> 140 mmHg) với huyết áp tâm trương trong giới hạn bình thường (<90 mmHg) • Xảy ra ở dân số lớn tuổi do giảm độ đàn hồi và tăng độ cứng động mạch • Bệnh nhân thường có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ, rối loạn chức năng thận) 3.