CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC CÁC QUỐC GIA CÓ NGHĨA VỤ HỢP TÁC VỚI NHAU 1. Tổng quan về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Nhìn từ phương diện pháp lý, bất cứ một ngành, hệ thống pháp luật nào cũng bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật nhất định và luôn có những quy phạm được xem là nguyên tắc của cả ngành hay hệ thống pháp luật ấy. Theo đó, những nguyên tắc của Luật quốc tế là những tư tưởng chính trị pháp lý quan trọng, thể hiện cô đọng các quy phạm Luật quốc tế. Và trong số đó có một số nguyên tắc được xem là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế 3.
Căn cứ theo Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có bảy nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, bao gồm: (1) Nguyên tắc không dùng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực; (2) Nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế; (3) Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; (4) Nguyên tắc quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau; (5) Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc; (6) Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; và (7) Nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế. Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế tồn tại chủ yếu dưới dạng các quy phạm pháp luật thể hiện trong các điều ước và tập quán quốc tế. Quy phạm Luật quốc tế là những quy tắc xử sự do các quốc gia và chủ thể khác của Luật quốc tế thỏa thuận xây dựng hoặc cùng nhau thừa nhận giá trị pháp lý ràng buộc của chúng khi tham gia vào quan hệ pháp luật quốc tế4. Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế bao gồm những đặc điểm sau: Thứ nhất, các nguyên tắc cơ bản là cơ sở của Luật quốc tế.
Dựa vào các nguyên tắc đó, các chủ thể Luật quốc tế có thể dễ dàng xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật một cách thống nhất. Các quốc gia là chủ thể của Luật quốc tế khi ban hành bất kỳ một quy phạm pháp luật nào đều phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản, khi đó quy phạm pháp luật này mới được xem là có hiệu lực thi hành. 3 Trường Đại học Huế (2018), Giáo trình Luật quốc tế, Nxb. Công an Nhân dân, tr.
4 Trường Đại học Luật TP. Hồng Đức, tr. 7 Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là những quy phạm mang tính chất phổ biến, phổ cập. Đặc trưng này thể hiện ở việc các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được áp dụng trong phạm vi toàn cầu, trong quan hệ giữa tất cả các quốc gia với nhau không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, vai trò và vị trí của quốc gia đó trong quan hệ quốc tế.
Các nguyên tắc được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945), Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc,… Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là các quy phạm mang tính chất mệnh lệnh, có giá trị pháp lý cao nhất. Tính chất mệnh lệnh của các nguyên tắc được xác định trong Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế, theo đó tại Điều 53 đã chỉ rõ các nguyên tắc này được coi là “quy phạm mệnh lệnh của Luật quốc tế chung, được cả cộng đồng quốc tế công nhận và áp dụng”. Cũng như hệ thống pháp luật quốc gia, bất cứ một quy định pháp luật nào khi ban hành đều phải tuân thủ Hiến pháp – văn bản pháp luật cao nhất do quốc gia ban hành. Là những quy phạm mang tính chất mệnh lệnh, các nguyên tắc cơ bản là cơ sở của toàn hệ thống Luật quốc tế, đảm bảo sự ổn định của trật tự pháp lý quốc tế.
Mọi điều ước quốc tế dù là đa phương hay song phương, toàn cầu hay khu vực đều phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Thứ tư, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có tính chất bao trùm nhất. Bởi chúng được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này khi nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong quan hệ giữa các chủ thể Luật quốc tế.
Hay nguyên tắc hợp tác đặt ra yêu cầu các quốc gia không chỉ đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu mà còn phải hoà bình, hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của quốc gia khác như các vấn đề về biến đổi khí hậu toàn cầu, y tế, dịch bệnh, quyền con người,… Đây là những vấn đề mà bất kể quốc gia nào gặp phải cũng trải qua khó khăn, thậm chí không thể giải quyết nếu không có sự hợp tác với các quốc gia khác. Bởi thế, việc tuân thủ nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là hết sức hợp lý và cần thiết. 8 Thứ năm, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Việc giải thích và áp dụng những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là có sự tương quan với nhau và mỗi nguyên tắc sẽ được hiểu trong mối quan hệ với những nguyên tắc khác5.
Ví dụ: nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực có mối quan hệ tương hỗ, đảm bảo thực hiện nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế và ngược lại. Các quốc gia cam kết không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, hướng đến giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hoà bình. Mặt khác, để tuân thủ nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp, các quốc gia cần từ bỏ việc sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng nó, thay vào đó là những biện pháp đàm phán, thoả thuận,… một cách hoà bình, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc cơ bản khác của Luật quốc tế. Chính vì vậy, khi giải thích và áp dụng từng nguyên tắc, các chủ thể phải xem xét, so sánh đối chiếu nó trong mối quan hệ với tất cả các nguyên tắc khác vì chúng được xem là một chỉnh thể, một hệ thống pháp lý quan trọng duy trì trật tự pháp lý quốc tế.
Theo tác giả, trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc nào cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu nguyên tắc hợp tác với vai trò là một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 1. Sự hình thành nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau Tại khoản 3, Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945) lần đầu tiên ghi nhận và cho thấy tinh thần của nguyên tắc hợp tác: “3.
Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Mặc dù đây chỉ là những quy định liên quan đến mục đích hoạt động của Liên Hợp Quốc (LHQ), nhưng đã cho thấy sự cần thiết của nguyên tắc hợp tác trong quan hệ quốc tế. 5 Điều 2 (Điều khoản chung) Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. 9 Đứng trước những vấn đề mang tính toàn cầu như chiến tranh, hòa bình, y tế, nhân đạo,… các quốc gia dần nhận thức được sự mất mát, tầm nguy hại do các vấn đề này gây ra.
Vì vậy sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nguyên tắc hợp tác trở thành một nguyên tắc quan trọng của Luật quốc tế. Sự ra đời của Nghị quyết số 2625 (XXV) ngày 24/10/1970 của Đại Hội Đồng LHQ đã chính thức ghi nhận một cách rõ ràng “những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, phù hợp với Hiến chương LHQ”. Trong Tuyên bố năm 1970, ngoài năm nguyên tắc đã nêu trong Điều 2 Hiến chương, bao gồm: Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia thành viên; Tận tâm thực hiện cam kết quốc tế; Hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế; Không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ bằng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác; còn bổ sung thêm hai nguyên tắc đó là nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau và nguyên tắc dân tộc tự quyết. Sự xuất hiện của nguyên tắc hợp tác trong Tuyên bố năm 1970 đã gây ra nhiều quan điểm tranh luận khác nhau.
Có quan điểm cho rằng, nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau chỉ được nói tới từ sau năm 1945. Trong bảy nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nguyên tắc tuân thủ các cam kết quốc tế được hình thành sớm nhất, ngay từ khi Luật quốc tế ra đời. Tuy nhiên trước năm 1945 nó chủ yếu ghi nhận dưới dạng tập quán pháp quốc tế và chưa thể hiện đầy đủ những đặc điểm như đã phân tích tại Mục 1.1 của khoá luận này. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia về mặt chủ quyền được xuất hiện từ thời kỳ Cách mạng Tư sản ở phương Tây.
Và phải trải qua một thời kỳ lâu dài, khó khăn, chúng mới được thừa nhận mang tính hạn chế, dưới dạng tập quán pháp quốc tế. Kể từ sau khi Hiến chương LHQ có hiệu lực pháp lý, các nguyên tắc đó đã chính thức trở thành nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, nguyên tắc không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực và nguyên 10 tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế đã có mầm mống từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX6. Quan điểm khác cho rằng, sự liên kết và hợp tác giữa các quốc gia đã được thiết lập từ thời kỳ đầu xuất hiện Nhà nước.
Tuy nhiên lúc bấy giờ, hợp tác giữa các quốc gia chỉ dừng lại ở các lĩnh vực cơ bản như phân định lãnh thổ - biên giới, hợp tác nhằm giải quyết các vấn đề về chiến tranh, hoà bình, về ngoại giao, lãnh sự,… và hợp tác là quyền của các quốc gia.