Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học của nghiên cứu sinh Phạm Xuân Thiên với đề tài "Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Bá Dương, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 80 05).
| Thông tin tổng quan | Nội dung chi tiết |
|---|---|
| Tên đề tài | Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay |
| Tác giả | Phạm Xuân Thiên |
| Người hướng dẫn khoa học | PGS. Nguyễn Bá Dương |
| Cơ sở đào tạo | Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành & Mã số | Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62 22 80 05) |
| Năm bảo vệ | 2014 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh lực lượng sản xuất hiện đại phát triển nhanh chóng dưới tác động của khoa học và công nghệ, quá trình phân công lao động và hợp tác sản xuất đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, hình thành xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như một tất yếu khách quan. Việt Nam đã ban hành các chủ trương lớn như Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế và Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày 14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chỉ rõ đặc điểm thời đại là các nước cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc.
Sau 27 năm đổi mới (1986 - 2013), bên cạnh những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam xuất phát điểm từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chịu hậu quả chiến tranh nặng nề, cơ cấu kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập và tiềm ẩn nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tụt hậu về kinh tế hoặc chịu tác động tiêu cực từ diễn biến hòa bình. Trong quan hệ quốc tế, việc phân định đối tác - đối tượng, nhận diện và giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh kinh tế đối ngoại nhằm tránh tình trạng bị lép vế, thiệt hại lợi ích đang là vấn đề thời sự cấp bách. Mặc dù đã có nhiều công trình kinh tế học và chính trị học đề cập đến hội nhập, song việc tiếp cận mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh dưới góc độ triết học duy vật biện chứng như một chỉnh thể thống nhất của các mặt đối lập nhằm tạo động lực phát triển vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; khẳng định quan điểm và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ này trong điều kiện hiện nay.
Luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về hợp tác, đấu tranh; mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Phân tích thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
- Khẳng định quan điểm và đề xuất giải pháp cơ bản nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại với tư cách là trung tâm, nền tảng của hội nhập quốc tế; các lĩnh vực văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, y tế chỉ được đề cập như các tiền đề hỗ trợ.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu dữ liệu và thực tiễn chủ yếu từ thời điểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đến năm 2014, kế thừa các văn kiện và tài liệu công bố từ năm 2001 trở đi.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế được tác giả thực hiện có trọng điểm tại một số tỉnh phía Bắc và một số địa phương tiêu biểu về hoạt động kinh tế đối ngoại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm công trình chính:
| Nhóm công trình nghiên cứu | Tác giả và công trình tiêu biểu trong văn bản | Nội dung học thuật đã giải quyết |
|---|---|---|
| 1. Nghiên cứu về hội nhập quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế | - Béla Balassa (1961), The Theory of Economic Integration - Viện Thông tin Khoa học Xã hội (2000), Khu vực hóa và toàn cầu hóa - hai mặt của tiến trình hội nhập quốc tế - Đậu Ngọc Xuân (2000) - Hoàng Khắc Nam (2002, 2006) - Nguyễn Trọng Chuẩn (2004) - Ngô Văn Điểm (2004) - Lương Văn Kế (2005) - Phạm Quốc Trụ (2011) - Hồ Bá Thâm, Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011) |
Luận giải khái niệm hội nhập kinh tế là sự gắn kết thể chế giữa các nền kinh tế; phân tích các xu hướng lý luận (chủ nghĩa chức năng, chức năng mới, liên bang, đa nguyên, xuyên quốc gia); khẳng định hội nhập kinh tế là trung tâm, vừa là động lực vừa là quá trình chứa đựng yếu tố chính trị, đòi hỏi gắn liền với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. |
| 2. Nghiên cứu về hợp tác, đấu tranh và mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh | - Machlup Fritz (1977) - Jovanovich M. (1998) - Vụ Hợp tác kinh tế đa phương - Bộ Ngoại giao (2002) - Hoàng Ngọc Hòa (2003, 2007) - Nguyễn Như Bình (2005) - Lê Thế Giới, Võ Xuân Tiến, Trương Bá Thanh (2005) - Grzegorz W. Kolodko (2006) - Nguyễn Xuân Thắng (2007) - Phạm Văn Đức (2007) - Vũ Văn Hiền (2007, Đề tài QTCT.01) - Trương Đình Tuyển (2008) - Nguyễn Phú Trọng (2012) - Thái Văn Long, Vũ Thế Tùng (2012) |
Luận giải cơ sở khách quan của hợp tác và đấu tranh xuất phát từ phân công lao động quốc tế và lợi ích kinh tế; xác định toàn cầu hóa mang tính hai mặt; chỉ ra rằng giải quyết mâu thuẫn lợi ích là cơ sở thúc đẩy trật tự kinh tế công bằng hơn; nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy kinh tế gắn với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. |
| 3. Nghiên cứu về thực tiễn và kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ hợp tác - đấu tranh | - Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2000) - Trần Khánh (2002, 2008 - Kinh nghiệm Singapore, Đông Nam Á) - Nguyễn Minh Phong (2002 - Kinh nghiệm Nhật Bản, Châu Á) - Đinh Xuân Lâm (2004) - Vũ Dương Ninh (2005, 2006, 2007) - La Chay Sinh Su Van (2006 - Kinh nghiệm Lào) - Trần Đức Lương (2006) - Vũ Như Khôi (2006) - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng (2008) - Nguyễn Sỹ Ánh (2008) - Nguyễn Duy Dũng (2009 - Kinh nghiệm Nhật Bản) - Nguyễn Đình Lương, Đình Chúc, Trần Hoàng Hà (2010 - Hiệp định BTA Việt Nam - Hoa Kỳ) - Hoàng Chí Bảo (2011) - Nguyễn Viết Thảo (2011) |
Đánh giá thành tựu thu hút đầu tư, mở rộng thương mại song phương và đa phương của Việt Nam; phân tích kinh nghiệm mở cửa của các quốc gia trong khu vực; chỉ ra hai khuynh hướng nhận thức sai lệch (tuyệt đối hóa đấu tranh dẫn tới cứng nhắc, thụ động hoặc tuyệt đối hóa hợp tác dẫn tới mất cảnh giác); rút ra bài học kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa và vận dụng phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến". |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Mặc dù các công trình đi trước đã tiếp cận hội nhập kinh tế quốc tế từ góc độ kinh tế học, luật học và quan hệ quốc tế, song chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ triết học duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như một chỉnh thể thống nhất của các mặt đối lập nhằm tạo động lực phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này thông qua việc xác lập cơ sở lý luận triết học, đánh giá thực trạng mâu thuẫn thực tiễn và xác định hệ thống quan điểm, giải pháp giải quyết mối quan hệ nói trên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và các khái niệm sử dụng
Luận án được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mâu thuẫn xã hội, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế và kinh tế đối ngoại:
- Lý thuyết mâu thuẫn và sự thống nhất của các mặt đối lập: Vận dụng nguyên lý của phép biện chứng duy vật về việc các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh bài trừ, phủ định lẫn nhau; trong đó thống nhất là tương đối, đấu tranh là tuyệt đối và là nguồn gốc của sự phát triển. Luận án viện dẫn quan điểm của V.I. Lênin về thời kỳ quá độ: "sự đối kháng sẽ dần dần biến mất, nhưng những mâu thuẫn thì vẫn tồn tại", đồng thời nhấn mạnh quan điểm của Lênin về việc sử dụng, trả lương cao cho các chuyên gia tư sản và tiếp thu các giá trị văn hóa, kinh tế của chủ nghĩa tư bản để phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Khái niệm hợp tác: Là quan hệ và sự tác động giữa người với người được hình thành trên cơ sở thống nhất và thỏa mãn nhu cầu, sở thích, lợi ích; là quá trình tìm tòi sự thống nhất về lợi ích và giải quyết các khác biệt để cùng đạt được mục tiêu chung.
- Khái niệm đấu tranh: Là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các chủ thể do có sự khác biệt hoặc đối lập về lợi ích nhằm giành ưu thế cho mình; trong kinh tế thị trường, đấu tranh biểu hiện tập trung qua cạnh tranh thương mại và bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia.
- Khái niệm mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế: Là sự tác động biện chứng giữa hai mặt đối lập trong hoạt động kinh tế đối ngoại của các chủ thể quốc tế, trong đó hợp tác là điều kiện để đấu tranh và đấu tranh là cơ sở để nâng cao hiệu quả, xác lập quan hệ hợp tác mới bình đẳng hơn.
- Thuyết hợp nhất kinh tế (Béla Balassa, 1961): Luận giải quá trình gắn kết thể chế giữa các nền kinh tế quốc gia với thị trường khu vực và toàn cầu thông qua việc bãi bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận biện chứng duy vật kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và lôgíc: Phân tích tiến trình đổi mới, mở cửa và tham gia các định chế kinh tế quốc tế của Việt Nam từ năm 1986, đặc biệt từ dấu mốc gia nhập WTO năm 2007.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch: Luận giải các luận điểm lý luận về lợi ích, đối tác, đối tượng và khái quát các mâu thuẫn thực tiễn.
- Phương pháp so sánh và hệ thống hóa: Phân loại, đối chiếu kinh nghiệm hội nhập của các nước (Singapore, Nhật Bản, Lào) và hệ thống hóa các nhóm công trình khoa học trong nước và quốc tế.
- Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực tế: Tác giả tự thực hiện khảo sát, thu thập tư liệu tại một số tỉnh phía Bắc và các địa phương tiêu điểm giải quyết tranh chấp kinh tế đối ngoại.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng (nhất là Đại hội XI); Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP và Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg của Chính phủ.
- Các công trình sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước/cấp bộ (như đề tài QTCT.01 của ĐHQGHN), kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Triết học, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị).
- Nguồn tư liệu khảo sát thực tế giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO (2007 - 2014).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp tác, đấu tranh; mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm và khung lý luận triết học về mối quan hệ biện chứng giữa hợp tác và đấu tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế:
-
Khái niệm và bản chất của hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế:
- Hợp tác là sự tác động qua lại có ý thức giữa con người với con người, xuất phát từ nhu cầu sinh tồn và phát triển, được hình thành trên cơ sở thống nhất về lợi ích. Hợp tác kinh tế giữ vị trí trung tâm, quyết định các lĩnh vực khác, biểu hiện ở việc cùng chia sẻ nguồn lực (vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên), thúc đẩy tự do hóa thương mại, chuyển giao kỹ thuật và chia sẻ lợi ích.
- Hợp tác trong hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết thể chế giữa các nền kinh tế quốc gia với thị trường khu vực và thế giới (tiếp cận lý thuyết Béla Balassa). Luận án chỉ rõ hợp tác không chỉ vì mục tiêu kinh tế đơn thuần mà còn hướng tới củng cố an ninh, chính trị và vị thế quốc tế.
-
Khái niệm và bản chất của đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế:
- Đấu tranh là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố đối lập nảy sinh từ sự khác biệt về nhu cầu và lợi ích. Trong kinh tế, đấu tranh biểu hiện qua việc bảo vệ thị trường nội địa, giành nguồn lực, kiểm soát tư liệu sản xuất và cạnh tranh thương mại.
- Đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế vừa mang tính kinh tế vừa mang tính chính trị sâu sắc, bởi các nước tư bản phát triển có ưu thế về công nghệ và tài chính thường áp đặt luật chơi bất bình đẳng, lồng ghép các vấn đề phi kinh tế (nhân quyền, tôn giáo) vào cam kết thương mại. Đấu tranh còn nhằm phủ định các nhận thức sai lệch, định kiến đối với thể chế chính trị của Việt Nam.
-
Mối quan hệ biện chứng giữa hợp tác và đấu tranh:
- Hợp tác và đấu tranh là hai mặt đối lập của một thể thống nhất trong hoạt động kinh tế quốc tế. Hợp tác tạo tiền đề, không gian và điều kiện để thực hiện đấu tranh; ngược lại, đấu tranh kiên quyết, khôn khéo là cơ sở để duy trì sự bình đẳng, loại bỏ các điều khoản bất bình đẳng và thúc đẩy hợp tác phát triển lên cấp độ cao hơn.
- Lợi ích quốc gia - dân tộc là tiêu chí trung tâm và thước đo hiệu quả của việc giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh.
-
Các yếu tố tác động đến việc giải quyết mối quan hệ hợp tác - đấu tranh:
- Bối cảnh toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế; sự chi phối luật chơi của các trung tâm tư bản lớn; sự chuyển dịch phức tạp giữa quan hệ đối tác và đối tượng; năng lực nội sinh và mức độ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
Chương 2: Giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 2 phân tích thực tiễn thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của Việt Nam, đánh giá ưu điểm, hạn chế và chỉ ra các mâu thuẫn nảy sinh:
-
Thực trạng giải quyết mối quan hệ hợp tác - đấu tranh:
- Ưu điểm: Việt Nam đã chủ động hội nhập sâu rộng, trở thành thành viên thứ 150 của WTO; thực hiện hiệu quả các cam kết song phương và đa phương (như Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ BTA, các hiệp định trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM); thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); tích cực đấu tranh vận động các đối tác công nhận quy chế kinh tế thị trường, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong các tranh chấp thương mại quốc tế.
- Hạn chế và hai xu hướng nhận thức sai lệch:
- Xu hướng thứ nhất (tuyệt đối hóa đấu tranh): Chỉ nhìn thấy sự khác biệt về hệ tư tưởng và lợi ích cơ bản mà bỏ qua những điểm tương đồng về lợi ích kinh tế trước mắt; phương thức xử lý cứng nhắc, do dự, bỏ lỡ thời cơ thu hút nguồn lực phát triển.
- Xu hướng thứ hai (tuyệt đối hóa hợp tác): Chạy theo lợi ích tăng trưởng kinh tế trước mắt bằng mọi giá, lơ là mất cảnh giác trước các nguy cơ an ninh kinh tế, không nhận diện thủ đoạn "diễn biến hòa bình", dẫn tới tình trạng bị động, lép vế trong các quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Nguyên nhân: Bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ về trình độ nhận thức lý luận, năng lực quản lý nhà nước chưa theo kịp tốc độ mở cửa, cùng sự đan xen phức tạp của các chuỗi lợi ích quốc tế.
-
Ba mâu thuẫn cơ bản đặt ra trong thực tiễn hội nhập kinh tế của Việt Nam:
Mâu thuẫn thực tiễn trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam:
- Mâu thuẫn thứ nhất: Giữa yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất chính trị, trình độ ngoại ngữ, năng lực đàm phán, hiểu biết luật pháp quốc tế của đội ngũ cán bộ, doanh nhân trực tiếp tham gia hội nhập với thực trạng năng lực còn nhiều hạn chế, thiếu chuyên gia đầu ngành trong xử lý tranh chấp thương mại quốc tế.
- Mâu thuẫn thứ hai: Giữa yêu cầu giữ vững độc lập, tự chủ về đường lối kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia với xu thế phải mở cửa, giảm thuế, tuân thủ các cam kết mở cửa thị trường và phụ thuộc lẫn nhau trong các định chế kinh tế toàn cầu.
- Mâu thuẫn thứ ba: Giữa hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật kinh tế trong nước còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, chậm sửa đổi với các định chế và quy định pháp lý quốc tế hết sức chặt chẽ, khắt khe của WTO và các hiệp định thương mại tự do.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Chương 3 đề xuất hệ thống quan điểm chỉ đạo và các nhóm giải pháp toàn diện nhằm giải quyết tối ưu mối quan hệ hợp tác - đấu tranh:
-
Ba quan điểm cơ bản:
- Hợp tác là điều kiện cho đấu tranh; đấu tranh là cơ sở để thúc đẩy hợp tác: Quán triệt rằng hợp tác tạo môi trường để giải quyết bất đồng, còn đấu tranh bảo đảm tính công bằng, bình đẳng, không để bị xâm hại lợi ích; vận dụng linh hoạt phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến".
- Kết hợp hội nhập kinh tế quốc tế với kiên quyết đấu tranh giữ vững nền kinh tế độc lập, tự chủ: Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, không đánh đổi độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần; chủ động phòng ngừa các nguy cơ chệch hướng, lệ thuộc kinh tế.
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước: Đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng trong công tác đối ngoại, nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong giải quyết các mối quan hệ kinh tế quốc tế.
-
Bốn nhóm giải pháp cơ bản:
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, chuyên gia pháp lý quốc tế và doanh nhân có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu luật pháp quốc tế, tinh thông nghiệp vụ và kỹ năng đàm phán thương mại.
- Bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế, pháp luật: Rà soát, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống luật pháp kinh tế trong nước nhằm tạo hành lang pháp lý tương thích với các chuẩn mực quốc tế, bảo vệ hiệu quả thị trường nội địa và doanh nghiệp trong nước trước các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, mở rộng và tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại: Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đa dạng hóa thị trường, đa phương hóa quan hệ đối tác để tránh phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.
- Xây dựng môi trường chính trị - xã hội ổn định; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh: Nâng cao thế và lực tổng hợp của đất nước; chủ động nhận diện và đấu tranh ngăn chặn các âm mưu lợi dụng hội nhập kinh tế để can thiệp nội bộ, xâm phạm chủ quyền quốc gia.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những đóng góp khoa học cụ thể sau:
-
Đóng góp về mặt lý luận:
- Dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án đã làm rõ nội hàm các khái niệm "hợp tác", "đấu tranh" trong hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó khái quát khái niệm trung tâm: "Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam".
- Khẳng định mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh là sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập, trong đó hai mặt này vừa làm tiền đề tồn tại cho nhau, vừa chuyển hóa lẫn nhau, tạo thành động lực trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
-
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Luận án đã phân tích thực trạng giải quyết mối quan hệ hợp tác - đấu tranh của Việt Nam từ khi gia nhập WTO (2007) đến năm 2014; chỉ rõ mặt tích cực trong thu hút vốn, mở rộng thị trường và bảo vệ lợi ích quốc gia, đồng thời nhận diện sâu sắc 2 khuynh hướng nhận thức lệch lạc (tuyệt đối hóa đấu tranh hoặc tuyệt đối hóa hợp tác).
- Khái quát và làm sáng tỏ 3 mâu thuẫn lớn trong thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (mâu thuẫn về năng lực chủ thể, mâu thuẫn về độc lập tự chủ trong hội nhập, mâu thuẫn về hệ thống pháp luật).
- Xây dựng hệ thống gồm 3 quan điểm chỉ đạo và 4 nhóm giải pháp cơ bản có tính khả thi, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định chủ trương, chính sách kinh tế đối ngoại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực tế của đề tài chủ yếu do tác giả tự thực hiện tại một số tỉnh phía Bắc và một số địa phương tiêu biểu, chưa có điều kiện mở rộng khảo sát trên phạm vi toàn diện các vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và miền Nam.
- Tư liệu nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các ấn phẩm tiếng Việt công bố trong giai đoạn 2001 - 2014, chưa khai thác sâu hệ thống tư liệu quốc tế đa ngôn ngữ về các tranh chấp thương mại cụ thể của Việt Nam tại các cơ quan tài phán quốc tế.
- Luận án chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế đối ngoại; các mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường mới chỉ được đề cập như các tiền đề hỗ trợ.
-
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về sự vận động và chuyển hóa giữa "đối tác" và "đối tượng" trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA).
- Nghiên cứu thực nghiệm, mở rộng phạm vi điều tra xã hội học trên toàn quốc về tác động của các vụ kiện thương mại quốc tế đến năng lực tự chủ của các ngành kinh tế chủ lực.
Giá trị tham khảo
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị ứng dụng đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược kinh tế đối ngoại, hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế và chuẩn bị phương án đàm phán thương mại quốc tế, đảm bảo giữ vững độc lập, tự chủ kinh tế.
- Đối với cán bộ ngoại giao, quản lý kinh tế và doanh nghiệp: Cung cấp cơ sở lý luận để nhận diện đối tác - đối tượng, xử lý hài hòa quan hệ lợi ích và phòng ngừa rủi ro pháp lý trong tranh chấp thương mại quốc tế.
- Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Triết học, Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Quan hệ quốc tế, Kinh tế chính trị tại các trường đại học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố và các trung tâm bồi dưỡng chính trị trên cả nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về "mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế"?
Theo luận án, đây là mối quan hệ tác động biện chứng giữa hai mặt đối lập trong hoạt động kinh tế đối ngoại của các chủ thể quốc tế. Hợp tác là sự liên kết, chia sẻ nguồn lực dựa trên sự thống nhất về lợi ích để cùng phát triển; đấu tranh là sự tác động qua lại bài trừ, phủ định lẫn nhau dựa trên sự khác biệt về lợi ích nhằm giành ưu thế. Hợp tác là điều kiện, môi trường để đấu tranh; đấu tranh là phương thức để giải quyết mâu thuẫn, bảo vệ lợi ích quốc gia và đưa hợp tác lên cấp độ cao hơn.
2. Hai xu hướng nhận thức sai lệch trong thực tiễn giải quyết mối quan hệ này mà luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra hai xu hướng:
- Xu hướng 1 (tuyệt đối hóa đấu tranh): Chỉ thấy sự khác biệt về hệ tư tưởng và mâu thuẫn lợi ích cơ bản, dẫn đến thái độ cứng nhắc, do dự, thụ động, bỏ lỡ thời cơ hợp tác phát triển.
- Xu hướng 2 (tuyệt đối hóa hợp tác): Chỉ chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt, tìm cách hợp tác bằng mọi giá, dẫn đến lơ là mất cảnh giác trước âm mưu "diễn biến hòa bình", khiến đất nước bị động và thiệt thòi trong quan hệ quốc tế.
3. Ba mâu thuẫn thực tiễn lớn nhất mà Việt Nam đối mặt trong hội nhập kinh tế quốc tế là gì?
Ba mâu thuẫn được luận án xác định tại Chương 2 bao gồm:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất, năng lực của chủ thể tham gia hội nhập với những hạn chế, bất cập thực tế của đội ngũ cán bộ, doanh nhân.
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với việc gắn kết sâu vào các tổ chức, thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
- Mâu thuẫn giữa những hạn chế, bất cập của hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật trong nước với các quy định chặt chẽ, khắt khe của luật pháp quốc tế.
4. Luận án đề xuất những quan điểm cơ bản nào để giải quyết mối quan hệ hợp tác - đấu tranh?
Luận án khẳng định 3 quan điểm cơ bản tại Chương 3:
- Xác định hợp tác là điều kiện cho đấu tranh, đấu tranh là cơ sở thúc đẩy hợp tác theo phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến".
- Kết hợp chặt chẽ hội nhập kinh tế quốc tế với kiên quyết đấu tranh giữ vững nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nâng cao trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước trong các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Xuân Thiên đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lý luận duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Trên cơ sở phân tích thực trạng tham gia WTO và chỉ ra ba mâu thuẫn cơ bản của thực tiễn, công trình đã khẳng định tính tất yếu của việc xem hợp tác và đấu tranh là hai mặt thống nhất của một thể chỉnh thể động lực. Hệ thống ba quan điểm và bốn nhóm giải pháp do luận án đề xuất cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho công tác hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại và giảng dạy lý luận chính trị tại Việt Nam.