Chương 1, trang 1 Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 -8- cả các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và / hoặc các tổ chức cộng đồng đại diện cho những tổ chức, cá nhân mà dự án có tác động trực tiếp. - Đối với Bộ Tài chính Singapore cho rằng PPP phản ánh mối quan hệ dài hạn giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân đối với cung cấp dịch vụ. PPP là một cách tiếp cận mới mà chính phủ đang kế tục và phát huy để làm gia tăng thêm mối quan hệ với (7) khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công. Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm về PPP, nhưng các khái niệm đều có đặc điểm chung là: “Mối quan hệ đối tác nhà nước – tư nhân là sự kết hợp hài hòa giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công cho xã hội, trên cơ sở lợi ích kinh tế, trách nhệm, chi phí và rủi ro được chia sẻ cho các bên tham gia”.
Các lĩnh vực trong đó mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân đã thực hiện trên thế giới như: sản xuất và phân phối điện; nước và vệ sinh; xử lý phế thải; đường ống; bệnh viện; xây dựng trường học và cơ sở vật chất giảng dạy; sân vận động; kiểm soát không lưu; nhà tù; đường sắt, đường bộ và nhà ở. Đặc điểm của mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực hạ tầng Theo World Bank, thuật ngữ PPP được sử dụng để nói đến những hình thức thỏa thuận hợp tác từ đơn giản đến phức tạp giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công là kết cấu hạ tầng và /hoặc các dịch vụ liên quan mà trước đây thường do khu vực nhà nước cấp vốn và thực hiện, theo đó, khu vực tư nhân chấp nhận những rủi ro về hoạt động, kỹ thuật và tài chính, đổi lại khu vực tư nhân được phép thu phí từ người sử dụng hoặc nhận thanh toán từ khu vực nhà nước.1 Dự án PPP nằm ở giữa của dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân: PPP Khu vực tư nhân Khu vực nhà nước Quyết định đầu tư dựa trên phân Khu vực tư nhân bỏ vốn đầu Quyết định đầu tư dựa tích chi phí - lợi ích với tỉ suất tư tài sản, thực hiện chức trên tỉ suất lợi nhuận kỳ chiết khấu xã hội nhằm vào mục năng của nhà nước để cung vọng tiêu phúc lợi công cộng cấp dịch vụ công (7) Ministry of Finance, Singapore, Public private partnership, Handbook, version 1, 2004, page 1 Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 -9- Cung cấp dịch vụ công trực Cung cấp hàng hóa, Cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp cho người dân tiếp đến người sử dụng, thu dịch vụ theo nhu cầu phí hoàn vốn từ người dụng, thị trường (thương mại hoặc cung cấp dịch vụ công thuần túy) cho Nhà nước với vai trò người mua, nhận thanh toán từ Nhà nước Là chủ sở hữu tài sản Là chủ sở hữu tài sản Chịu trách nhiệm cấp vốn đầu Có thể là chủ sở hữu tài sản Bỏ vốn đầu tư, quản lý tư, quản lý và vận hành tài sản hoặc không và vận hành tài sản Thu phí hoặc không thu phí từ Thu hồi vốn đầu tư và người sử dụng lợi nhuận từ người mua Một cách tổng quát, PPP có một số nét đặc trưng như sau: - Có các mối quan hệ tương đối lâu dài giữa đối tác nhà nước và đối tác tư nhân; - Cơ cấu nguồn vốn bao gồm cả vốn của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân; - Có cơ quan vận hành đóng vai trò quan trọng tại mỗi giai đoạn của dự án (thiết kế, thực hiện, hoàn thiện, cấp vốn); - Đối tác nhà nước chú trọng vào việc xác định các mục tiêu cần đạt được; - Có sự phân chia rủi ro giữa đối tác nhà nước và đối tác tư nhân. Các mô hình hợp tác công tư(8) 1. Hợp đồng dịch vụ 1.
Khái niệm, đặc điểm Với mô hình này, chính phủ (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thuê một công ty tư nhân hoặc một thực thể tư nhân tiến hành một hoặc nhiều công việc hoặc dịch vụ cụ (8) Klaus Felsinger, a former staff member of the Asian Development Bank’s (ADB) Regional and Sustainable Development Department (RSDD), Special Initiative Group (RSOD- SI) and a member of the Innovation and Efficiency Initiative (IEI) Team: “Handbook of Public Private Partnership”. -10- thể trong một khoảng thời gian, thường là từ 1 đến 3 năm. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền vẫn là người cung cấp chính dịch vụ cơ sở hạ tầng và chỉ thuê đối tác tư nhân điều hành một phần hoạt động. Đối tác tư nhân phải thực hiện dịch vụ với một mức chi phí được thoả thuận và thường phải đáp ứng những tiêu chuẩn hoạt động do cơ quan nhà nước đặt ra.
Chính phủ thường sử dụng các thủ tục đấu thầu cạnh tranh để quyết định việc trao hợp đồng dịch vụ. Hợp đồng dịch vụ thường có xu hướng hoạt động tốt với điều kiện khống chế về khoảng thời gian và tính chất của các hợp đồng được xác định ở (9) phạm vi hẹp. Mô hình này thích hợp áp dụng trong lĩnh vực cung cấp nước sạch 1. Cơ chế tài chính Trong một hợp đồng dịch vụ, chính phủ trả đối tác tư nhân một khoản phí định trước cho dịch vụ, có thể dựa trên cơ sở phí một lần, trên cơ sở chi phí đơn vị dịch vụ hoặc dựa trên các cơ sở khác.
Vì thế, lợi nhuận của nhà thầu sẽ tăng lên nếu nhà thầu có thể giảm được chi phí điều hành mà vẫn đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn dịch vụ. Một lựa chọn tài chính trong hình thức này là công thức chi phí cộng phí, trong đó các chi phí như lao động được tính cố định và đối tác tư nhân tham gia hệ thống chia sẻ lợi nhuận. Đối tác tư nhân thường không có tương tác với khách hàng. Chính phủ chịu trách nhiệm tài trợ bất kỳ khoản đầu tư vốn cần thiết nào để mở rộng hay cải thiện hệ thống.
Nguồn thu khi cung cấp dịch vụ công này do nhà nước thu, mức thu do nhà nước quy định và nhà nước quản lý nguồn thu. Ưu điểm và hạn chế - Ưu điểm: Hợp đồng dịch vụ thông thường thích hợp nhất khi dịch vụ có thể được xác định rõ ràng trong hợp đồng, mức độ nhu cầu tương đối chắc chắn và việc thực hiện có thể theo dõi một cách dễ dàng. Các hợp đồng dịch vụ là một lựa chọn có độ rủi ro tương đối thấp trong việc mở rộng vai trò của khu vực tư nhân. Các hợp đồng dịch vụ có thể có tác động nhanh và đáng kể đối với hoạt động và tính hiệu quả của hệ thống và là một phương thức để chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực quản lý.
Các hợp đồng dịch vụ thường có thời gian ngắn, tạo điều kiện cho cạnh tranh liên tục trong lĩnh vực. Các rào cản đối với việc tham gia cũng ở mức thấp căn cứ trên việc chỉ có một hoạt động dịch vụ riêng biệt được đưa ra đấu thầu. Việc đấu thầu lặp đi lặp lại (9) Phụ lục 1 -11- duy trì áp lực đối với các nhà thầu phải duy trì chi phí thấp, trong khi các rào cản ở mức thấp khuyến khích nhiều công ty tham gia cạnh tranh với nhau. - Hạn chế: Các hợp đồng dịch vụ sẽ không phù hợp nếu mục tiêu chính là thu hút vốn đầu tư.
Các hợp đồng có thể nâng cao tính hiệu quả và vì thế giúp đem lại một lượng doanh thu nhất định để sử dụng cho các mục đích khác, nhưng nhà thầu không có nghĩa vụ cung cấp tài chính cho dự án. Tính hiệu quả của nhà thầu có thể sẽ không đạt được nếu nguồn tài chính cho dự án (từ chính phủ hoặc từ nhà tài trợ) không thể huy động được. Thực tế hoạt động của nhà thầu tách biệt khỏi các hoạt động chung của công ty có nghĩa là có thể không có tác động rộng rãi hoặc sâu sắc tới hoạt động chung của hệ thống mà chỉ có những cải thiện riêng biệt và giới hạn. Khu vực nhà nước vẫn chịu trách nhiệm về tài sản và qui định biểu phí dịch vụ, cả hai vấn đề này đều có tính nhạy cảm chính trị và là yếu tố then chốt để duy trì hệ thống.
Hợp đồng quản lý 1. Khái niệm, đặc điểm Một hợp đồng quản lý mở rộng phạm vi ký kết bao gồm một phần hoặc toàn bộ hoạt động quản lý và điều hành của một dịch vụ công (dịch vụ công ích, bệnh viện, quản lý cảng,. Mặc dù nghĩa vụ cung cấp dịch vụ vẫn thuộc trách nhiệm của khu vực nhà nước, hoạt động quản lý kiểm soát và thẩm quyền xử lý hàng ngày được giao cho đối tác tư nhân hoặc nhà thầu. Lĩnh vực áp dụng loại hợp đồng này: Loại hợp đồng này được áp dụng trong lĩnh vực y tế.
Ví dụ trình bày kinh nghiệm của Campuchia đối với các hợp đồng quản lý trong (10) lĩnh vực y tế. Cơ chế tài chính Nhà nước sẽ trả cho đối tác tư nhân hoặc nhà thầu tư nhân một tỷ lệ được thoả thuận trước cho chi phí lao động và các chi phí điều hành dự kiến khác. Để cung cấp động lực cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động, nhà thầu được trả thêm một khoản cho việc đạt được những mục tiêu đã được thoả thuận và quy định cụ thể từ trước. Một cách khác, nhà thầu quản lý có thể được nhận một phần lợi nhuận.
Thêm vào đó, khu vực nhà 10 ( )Phụ lục 2 -12- nước vẫn giữ nghĩa vụ cung cấp các khoản đầu tư chủ yếu, đặc biệt những khoản đầu tư liên quan đến việc mở rộng và cải thiện hệ thống một cách bền vững. Đối tác tư nhân cung cấp vốn cho hoạt động quản lý điều hành nhưng không cung cấp vốn đầu tư. Hợp đồng có thể qui định cụ thể các hoạt động riêng biệt mà khu vực tư nhân sẽ chịu trách nhiệm góp vốn thực hiện các hoạt động đó. Đối tác tư nhân sẽ liên hệ với các khách hàng và khu vực nhà nước chịu trách nhiệm quy định biểu phí dịch vụ.
Một hợp đồng quản lý thông thường sẽ cải thiện hệ thống quản lý và tài chính của công ty. Các quyết định liên quan đến mức độ dịch vụ và các ưu tiên sẽ được đưa ra trên cơ sở cân nhắc mang tính chất thương mại hơn.