Luận văn thạc sĩ về hợp đồng lập hội theo pháp luật Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls hợp đồng lập hội theo pháp luật việt nam chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự 60 38 01, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2017

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LẬP HỘI

1.1. Khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm và phân loại của hợp đồng lập hội

1.2. Khái niệm, ý nghĩa và phân loại của hội

1.3. Đàm phán và giao kết hợp đồng lập hội

1.3.1. Đàm phán hợp đồng lập hội

1.3.2. Giao kết hợp đồng lập hội

1.4. Hiệu lực của hợp đồng lập hội

1.4.1. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lập hội

1.4.2. Hợp đồng lập hội vô hiệu. Đặc điểm riêng về hiệu lực của hợp đồng lập hội

1.5. Nội dung của hợp đồng lập hội

1.5.1. Các điều kiện bắt buộc của hợp đồng lập hội

1.5.2. Các điều kiện khác của hợp đồng lập hội

1.6. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng lập hội

1.6.1. Các nguyên tắc nền tảng của pháp luật điều chỉnh hợp đồng lập hội

1.6.2. Cấu trúc và nguồn của pháp luật điều chỉnh hợp đồng lập hội

1.7. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng lập hội

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY VỀ HỢP ĐỒNG LẬP HỘI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

2.1. Tổng quan pháp luật Việt Nam hiện nay về hợp đồng lập hội

2.2. Cấu trúc và nguồn của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng lập hội

2.3. Thực trạng giải quyết tranh chấp liên quan tới hợp đồng lập hội

2.4. Một số kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp đồng lập hội theo pháp luật Việt Nam

Hợp đồng lập hội là một khái niệm quan trọng trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Hợp đồng này không chỉ là cơ sở pháp lý cho việc thành lập các hội mà còn phản ánh quyền tự do lập hội của công dân. Theo Hiến pháp năm 2013, quyền tự do lập hội được ghi nhận rõ ràng, tạo điều kiện cho sự phát triển của các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, việc hiểu rõ về hợp đồng lập hội vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của hợp đồng lập hội

Hợp đồng lập hội được hiểu là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều cá nhân nhằm thành lập một tổ chức với mục đích chung. Hợp đồng này không chỉ có ý nghĩa pháp lý mà còn thể hiện sự liên kết và hợp tác giữa các thành viên. Việc xác định rõ khái niệm này giúp phân biệt hợp đồng lập hội với các loại hợp đồng khác trong pháp luật.

1.2. Đặc điểm và phân loại hợp đồng lập hội

Hợp đồng lập hội có những đặc điểm riêng biệt như tính tự nguyện, tính hợp pháp và tính xã hội. Phân loại hợp đồng này có thể dựa trên mục đích hoạt động, bao gồm hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế và hợp đồng lập hội không có mục đích kinh tế. Sự phân loại này giúp hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật liên quan.

II. Vấn đề và thách thức trong việc lập hội theo pháp luật Việt Nam

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định về hợp đồng lập hội, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc thực hiện. Các quy định hiện hành chưa đủ rõ ràng, dẫn đến sự khó khăn trong việc áp dụng và thực thi. Ngoài ra, sự thiếu hụt thông tin và hiểu biết về pháp luật cũng là một rào cản lớn đối với các tổ chức muốn thành lập hội.

2.1. Những khó khăn trong quy trình lập hội

Quy trình lập hội thường gặp khó khăn do thiếu hướng dẫn cụ thể từ cơ quan nhà nước. Nhiều tổ chức không biết bắt đầu từ đâu và cần thực hiện những bước nào để hoàn tất thủ tục. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều hội không được thành lập hoặc hoạt động không hiệu quả.

2.2. Thiếu sót trong quy định pháp luật về hợp đồng lập hội

Các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng lập hội còn thiếu sót, không bao quát hết các loại hình hội và không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Điều này gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong hội.

III. Phương pháp và giải pháp cải thiện hợp đồng lập hội

Để cải thiện tình hình hiện tại, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng lập hội. Việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và đồng bộ sẽ giúp các tổ chức dễ dàng hơn trong việc thành lập và hoạt động. Ngoài ra, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân và các tổ chức.

3.1. Xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho hợp đồng lập hội

Cần thiết phải xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và chi tiết cho hợp đồng lập hội, bao gồm các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên.

3.2. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Việc tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật về hợp đồng lập hội sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân và các tổ chức. Điều này không chỉ giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của các hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về hợp đồng lập hội

Nghiên cứu về hợp đồng lập hội đã chỉ ra rằng việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, một số tổ chức đã thành công trong việc áp dụng hợp đồng lập hội để phát triển hoạt động của mình. Những kết quả này cho thấy tầm quan trọng của hợp đồng lập hội trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự.

4.1. Các mô hình thành công trong việc lập hội

Một số mô hình hội thành công đã được áp dụng tại Việt Nam, cho thấy sự cần thiết của hợp đồng lập hội trong việc phát triển các tổ chức xã hội. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo ra giá trị cho cộng đồng.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng hợp đồng lập hội có thể mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước và sự tham gia tích cực của cộng đồng.

V. Kết luận và tương lai của hợp đồng lập hội tại Việt Nam

Hợp đồng lập hội đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam. Tuy nhiên, để phát huy tối đa hiệu quả của hợp đồng này, cần có những cải cách và hoàn thiện quy định pháp luật. Tương lai của hợp đồng lập hội sẽ phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả cộng đồng và các cơ quan chức năng trong việc xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi.

5.1. Tầm quan trọng của hợp đồng lập hội trong xã hội

Hợp đồng lập hội không chỉ là cơ sở pháp lý mà còn là nền tảng cho sự phát triển của các tổ chức xã hội. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc hoàn thiện quy định pháp luật liên quan.

5.2. Định hướng phát triển hợp đồng lập hội trong tương lai

Định hướng phát triển hợp đồng lập hội trong tương lai cần tập trung vào việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn. Điều này sẽ giúp các tổ chức dễ dàng hơn trong việc thành lập và hoạt động.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hợp đồng lập hội theo pháp luật việt nam chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự 60 38 01 03

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – Lý luận về hợp đồng lập hội Chương 2 – Pháp luật Việt Nam hiện nay về hợp đồng lập hội và một số kiến nghị 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG LẬP HỘI 1. Khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm và phân loại của hợp đồng lập hội 1. Khái niệm, ý nghĩa và phân loại của hội Không thể phủ nhận vai trò và ý nghĩa to lớn của hội trong đời sống con người, nhất là trong nền kinh tế thị trường. Hội, xét chung trong tổng thể việc đáp ứng các nhu cầu sống của con người, là một trong những phương tiện quan trọng giúp con người thỏa mãn các nhu cầu đó [6, tr.

38] mà trong chúng bao gồm cả các nhu cầu về vật chất và các nhu cầu về tinh thần. Tuy nhiên bản chất pháp lý của hội vẫn còn là một vấn đề gây tranh luận. Có lẽ việc xem xét bản chất của hội trước hết bắt đầu từ việc phân loại hội. Với tính cách là một phương tiện chung nhằm đáp ứng các nhu cầu sống, nhưng do cách thức của sự đáp ứng từng loại nhu cầu có sự khác nhau, cho nên phản ánh về mặt hình thức (không trùng khít hoàn toàn), hội được chia thành hai loại cơ bản là hội có mục đích kinh tế và hội không có mục đích kinh tế.

Bộ luật Dân sự Đức năm 2002 có các qui định phân loại hội như vậy tại Điều 21 và Điều 22 để thiết lập qui chế thủ đắc năng lực pháp lý riêng biệt của từng loại hội. Các điều luật này có nội dung như sau: “Một hội mà mục tiêu của nó không phải là hoạt động thương mại thì có tư cách pháp lý bởi việc được ghi vào sổ đăng ký hội tại tòa án địa phương có thẩm quyền” (Điều 21); và “Một hội mà mục tiêu hoạt động của nó là hoạt động thương mại thì có tư cách pháp lý được cấp bởi tiểu bang, nếu không có các qui định đặc biệt của luật liên bang” (Điều 22). Cách phân loại này không giúp xác định được bản chất pháp lý của hội mà chỉ cho phép hiểu biết sự lựa chọn của nhà làm luật về cách thức cấp năng lực pháp lý cho hội. Xét từ căn cứ tạo lập nên hội, có thể chia hội thành hai loại là hội được tạo lập bởi hợp đồng và hội được tạo lập bởi pháp luật.

Tuy nhiên hội là một tổ chức phi chính phủ, nên việc pháp luật qui định về việc thành lập một hội cụ thể hay nhà nước quyết định thành lập hội mà không có sự tự nguyện tham dự của các thành viên là việc ít xảy ra. Vì thế về cơ bản hội mang bản chất 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp đồng. Vì vậy nhiều Bộ luật Dân sự của nhiều nước trên thế giới đều có chương nói về hội hay hợp đồng lập hội mà tại đó mô tả chung các đặc điểm pháp lý của hội. Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931, Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 và Bộ luật Dân sự năm 1972 của Chính quyền Sài Gòn (cũ) theo mô hình Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 đều có một chương như vậy.

Tuy nhiên các chương như vậy trong các bộ luật của Việt Nam đều chủ yếu qui định về hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế. Trong khi đó Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 có một chương nói về “hội” với tính cách là hợp đồng, sau đó mở rộng ra với tính cách là hành vi pháp lý (bao gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương) bởi về sau này nhà làm luật chấp nhận hội thương mại có thể chỉ có một thành viên (là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hay công ty cổ phần một thành viên). Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ năm 1931 định nghĩa: “Khế ước lập hội là khế ước do hai hay nhiều người đồng ý xuất tài sản chung nhau để lấy lợi mà chia nhau” (Điều thứ 1200). Các qui định này được sao chép nguyên văn vào Điều thứ 1425 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936.

Các định nghĩa này chưa làm rõ được nội hàm của khái niệm hợp đồng lập hội. Theo định nghĩa của hai bộ luật này, hai hay nhiều người cùng tiết kiệm bằng cách bỏ tiền cùng nhau gửi tiết kiệm rồi lấy tiền lãi chia nhau phải chăng cũng được xem là hợp đồng lập hội? Khắc phục những khiếm khuyết của định nghĩa trong hai bộ luật nêu trên, Bộ luật Dân sự năm 1972 đã chuyển hóa những đặc trưng của hội theo Điều 1832, Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 để định nghĩa hợp đồng lập hội như sau: “Khế ước lập hội là khế ước theo đó hai hay nhiều người đồng ý góp công, góp của để hoạt động với mục đích kiếm được lời cùng chia nhưng nếu thua lỗ cùng chịu” (Điều thứ 1264). Theo định nghĩa này, hợp đồng lập hội có các dấu hiệu như: (1) hai hay nhiều người cùng nhau góp vốn (có thể bằng công sức hoặc bằng tài sản); (2) hai hay nhiều người đó cùng nhau hoạt động trên căn bản sự góp vốn đó; (3) các hoạt động cùng nhau này phải nhằm mục đích sinh lời để chia nhau; và (4) nếu hoạt động chung này bị thua lỗ thì hai hay nhiều người đó phải cùng nhau gánh chịu. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu xét từ việc tổ chức hội, hợp đồng lập hội có thể được phân chia thành hai loại: Loại thứ nhất là hợp đồng tạo lập nên một hội nhất định; và loại thứ hai là hợp đồng gia nhập một hội nhất định.

Loại thứ nhất là một hợp đồng được giao kết giữa các thành viên sáng lập ra hội với nhau. Loại thứ hai là hợp đồng được giao kết giữa một thành viên gia nhập một hội nhất định với chính hội đó. Trong vụ Clarke v. Dunraven [1897], tòa án Anh cho rằng hai người cùng viết đơn xin gia nhập một hội vào hai thời điểm khác nhau (mà họ không hề quen biết nhau) cũng được coi giữa hai người có sự thỏa thuận.

Clarke và Dunraven đều viết đơn xin tham dự vào câu lạc bộ đua thuyền mang tên Mudhook Yacht Club, và cam kết tuân thủ các qui tắc của Yacht Club Association. Các qui tắc này qui định chủ nhân của con thuyền vi phạm qui tắc va chạm phải con thuyền khác có trách nhiệm bồi thường tất cả các thiệt hại phát sinh. Thuyền của Clarke va chạm vào thuyền của Dunraven. Vụ kiện xảy ra.

Tòa phúc thẩm Anh Quốc và House of Lords phán quyết rằng có quan hệ hợp đồng tồn tại giữa những người tham dự cuộc đua thuyền. Vì vậy Clarke phải bồi thường Dunraven bởi vi phạm hợp đồng. Án lệ này áp dụng cho vụ Rayfield v. Tòa ra phán quyết rằng sự đăng ký của một thành viên vào hợp đồng và điều lệ công ty không chỉ tạo ra sự thỏa thuận giữa thành viên và công ty, mà còn tạo ra sự thỏa thuận giữa thành viên đó với những người đăng ký khác [26, p.

Như vậy được xem là sự thỏa thuận không đòi hỏi các bên phải biết về sự đồng ý của nhau đối các điều kiện của hợp đồng và không đòi hỏi các bên phải đồng ý các điều kiện của hợp đồng vào cùng một thời điểm [7]. Khái niệm về hợp đồng lập hội trong các Bộ luật Dân sự thuộc về loại thứ nhất. Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản hợp đồng lập hội là loại hợp đồng tạo lập nên một hội. Tuy nhiên các định nghĩa nêu trên mới chỉ nhằm tới các hội có mục đích kinh tế.

Vậy việc xây dựng một định nghĩa cho hợp đồng lập hội nói chung không kể hội có mục đích kinh tế hay không là một việc cần thiết trước hết để phân biệt hợp đồng lập hội với các loại hợp đồng khác, và sau đó để nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan, cũng như xây dựng qui chế pháp lý cho loại hợp đồng này. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khảo sát Hội Sinh viên Việt Nam (một tổ chức có gần 1.000 nghìn hội viên đang sinh hoạt tại hơn 200 Hội Sinh viên trường, 21 Hội sinh viên tỉnh, thành phố, 50 Hội sinh viên cấp trường trực thuộc Trung ương và 05 Hội Sinh viên Việt Nam ở nước ngoài: Pháp, Hàn Quốc, Hà Lan, Đức, Bỉ) cho thấy: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội Sinh viên Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 29 đến 31/07/1955 với sự tham dự của 244 đại biểu chính thức và 255 đại biểu dự thính của các trường đại học, đại biểu sinh viên miền Nam và đại biểu lưu học sinh ở nước ngoài cùng nhau thông qua bản điều lệ, chương trình hoạt động và lời kêu gọi sinh viên toàn quốc, đồng thời bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội để theo đuổi mục đích đoàn kết, thống nhất mọi lực lượng sinh viên trong Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam, cùng với thanh niên và nhân dân cả nước đấu tranh cho hòa bình, độc lập và thống nhất Tổ quốc, đòi thực hiện tổng tuyển cử do hai miền Nam, Bắc theo đúng tinh thần Hiệp định Giơ-ne-vơ [29]. Các thông tin này nói lên rằng Hội sinh viên Việt Nam là sự thống nhất ý chí của những đại biểu sinh viên (những người sáng lập) có các mục tiêu chính trị, xã hội. Nội dung của sự thống nhất ý chí này thể hiện trong điều lệ của hội được thông qua tại đại hội.

Xét riêng dưới giác độ pháp lý, hợp đồng tạo lập ra hội này (hội không nhằm mục đích kinh tế) không có dấu hiệu hoạt động nhằm mục đích sinh lời để chia nhau như đối với hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế, nhưng thay vào đó là dấu hiệu cùng nhau hoạt động nhằm mục tiêu chung (có thể là các mục tiêu chính trị, xã hội, văn hóa, từ thiện…). Riêng dấu hiệu cùng nhau chịu lỗ của hợp đồng lập hội có mục đích kinh tế thì không có dấu hiệu nào của hợp đồng lập hội không nhằm mục đích kinh tế thay vào bởi mục tiêu của các thành viên của hội không nhằm mục đích kinh tế không phải là bỏ công sức hoặc tiền của ra để đổi lại một món lợi tiền bạc lớn hơn mà thực sự là sự chi tiêu cho các nhu cầu có tính cách tinh thần. Tuy nhiên nếu hội (bất kể là hội nhằm mục đích kinh tế hay không) mà hoạt động trái mục đích và vi phạm pháp luật, thì chính hội với tính cách là một thực thể pháp lý riêng biệt phải chịu trách nhiệm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hợp đồng lập hội theo pháp luật Việt Nam: Nghiên cứu và kiến nghị" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý liên quan đến việc thành lập hội tại Việt Nam. Tác giả phân tích các điều khoản pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm cải thiện quy trình và điều kiện để các tổ chức hội có thể hoạt động hiệu quả hơn. Những điểm nổi bật trong tài liệu bao gồm sự cần thiết phải điều chỉnh các quy định để phù hợp với thực tiễn, cũng như việc khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động xã hội.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Hợp đồng ủy quyền theo pháp luật Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về các hợp đồng ủy quyền và vai trò của chúng trong các giao dịch pháp lý. Ngoài ra, tài liệu Hình thức của hợp đồng: Một số vấn đề và những kiến nghị sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hình thức hợp đồng và những thách thức trong việc hoàn thiện chúng. Cuối cùng, tài liệu Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu và hậu quả phát sinh sẽ cung cấp thông tin bổ ích về các vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực này.