Luận văn các vấn đề pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu các vấn đề pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam, phân tích quy định pháp luật, giao kết và thực hiện HĐCTTC

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Tác giả

Lê Thị Tháo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học luật

2002

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam Tổng quan và khái niệm pháp lý

Hợp đồng cho thuê tài chính (HDCTTC) là một công cụ pháp lý quan trọng trong hệ thống tài chính – tín dụng tại Việt Nam. Khác với hợp đồng thuê thông thường, HDCTTC mang tính chất kép: vừa là quan hệ tín dụng, vừa là quan hệ thuê tài sản. Theo luận văn của Lê Thị Tháo (2002), HDCTTC được hiểu là thỏa thuận trong đó bên cho thuê tài chính (thường là tổ chức tín dụng hoặc công ty cho thuê tài chính) mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê, sau đó giao tài sản đó cho bên thuê sử dụng trong một thời hạn nhất định, kèm theo nghĩa vụ thanh toán định kỳ. Quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về bên cho thuê trong suốt thời hạn hợp đồng, nhưng bên thuê có quyền sử dụng như chủ sở hữu thực tế. Cho thuê tài chính đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn trung và dài hạn mà không cần thế chấp truyền thống. Trong bối cảnh thị trường vốn Việt Nam còn hạn chế, HDCTTC giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ) như máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Về bản chất pháp lý, HDCTTC không được điều chỉnh hoàn toàn bởi Bộ luật dân sự (BLDS) mà còn chịu sự chi phối của các văn bản chuyên ngành như Nghị định về hoạt động cho thuê tài chính và quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Việc thiếu thống nhất trong cách tiếp cận pháp lý đã dẫn đến nhiều tranh chấp và khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của hợp đồng cho thuê tài chính

HDCTTC là loại hợp đồng dân sự đặc biệt, kết hợp yếu tố tín dụng và thuê tài sản. Theo nghiên cứu của Lê Thị Tháo, bản chất pháp lý của HDCTTC không thuần túy là quan hệ thuê mà mang tính chất tài trợ vốn. Bên cho thuê không chỉ cung cấp tài sản mà còn thực hiện chức năng của một tổ chức tín dụng (TCTD). Điều này khiến HDCTTC khác biệt rõ rệt với hợp đồng kinh tế (HDKT) hay hợp đồng thuê thông thường. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất, dẫn đến cách hiểu đa dạng trong thực tiễn.

1.2. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính trong nền kinh tế

Cho thuê tài chính giúp doanh nghiệp tiếp cận tài sản lưu động (TSLĐ) và TSCĐ mà không cần huy động vốn lớn ngay lập tức. Đây là giải pháp linh hoạt cho các doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp. Ngoài ra, hoạt động này còn góp phần thúc đẩy sản xuất, hiện đại hóa trang thiết bị và phân bổ hiệu quả nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Tại Việt Nam, vai trò này ngày càng được khẳng định trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

II. Những thách thức pháp lý trong hợp đồng cho thuê tài chính tại Việt Nam

Mặc dù hợp đồng cho thuê tài chính đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhiều bất cập vẫn tồn tại. Một trong những vấn đề nổi cộm là sự thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp lý. BLDS năm 2015 và các Nghị định hướng dẫn về cho thuê tài chính đôi khi mâu thuẫn về điều kiện giao kết, chủ thể tham gia và hậu quả pháp lý khi vi phạm. Ví dụ, BLDS coi HDCTTC là một dạng hợp đồng dân sự, trong khi các quy định của NHNN lại áp dụng khuôn khổ pháp lý của hoạt động tín dụng. Sự chồng chéo này gây khó khăn cho cả bên cho thuê và bên thuê trong việc xác định quyền và nghĩa vụ. Ngoài ra, chủ thể tham gia HDCTTC cũng bị giới hạn. Theo quy định hiện hành, chỉ các tổ chức tín dụng hoặc công ty cho thuê tài chính được thành lập theo Luật Các tổ chức tín dụng mới có quyền ký HDCTTC. Điều này hạn chế sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài, làm giảm tính cạnh tranh và hiệu quả thị trường. Một thách thức khác là thực tiễn giao kết hợp đồng. Nhiều doanh nghiệp nhỏ thiếu hiểu biết pháp lý, dẫn đến việc ký kết hợp đồng không đầy đủ điều khoản, gây rủi ro tranh chấp. Đặc biệt, vấn đề hiệu lực của hợp đồng khi không tuân thủ hình thức bắt buộc (ví dụ: phải lập thành văn bản) thường bị bỏ qua, khiến hợp đồng dễ bị vô hiệu.

2.1. Mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành

Sự thiếu đồng bộ giữa BLDS, Luật Các tổ chức tín dụng và các Nghị định chuyên ngành khiến HDCTTC rơi vào “khoảng trống pháp lý”. Điều này làm giảm tính minh bạch và dự báo pháp lý cho các bên tham gia. Nhiều vụ việc tranh chấp phải giải quyết theo nguyên tắc chung thay vì quy định chuyên biệt.

2.2. Hạn chế về chủ thể và điều kiện giao kết hợp đồng

Chỉ tổ chức tín dụng được phép tham gia HDCTTC, trong khi nhiều doanh nghiệp có năng lực tài chính nhưng không phải TCTD lại bị loại trừ. Điều này cản trở sự phát triển đa dạng của thị trường cho thuê tài chính và hạn chế quyền lựa chọn của bên thuê.

III. Phương pháp giao kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính hiệu quả

Để đảm bảo hợp đồng cho thuê tài chính được thực hiện suôn sẻ, các bên cần tuân thủ nghiêm ngặt trình tự giao kết hợp đồng theo quy định pháp luật. Trước tiên, bên thuê phải có nhu cầu cụ thể về tài sản và khả năng tài chính để thanh toán định kỳ. Bên cho thuê tiến hành thẩm định năng lực tài chính, mục đích sử dụng và phương án trả nợ. Sau đó, hai bên thỏa thuận các điều khoản cơ bản: loại tài sản, giá trị, thời hạn thuê, số tiền thuê, quyền và nghĩa vụ các bên, và điều kiện chuyển giao quyền sở hữu (nếu có). Theo luận văn của Lê Thị Tháo, nguyên tắc giao kết HDCTTC bao gồm: tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và tuân thủ pháp luật. Đặc biệt, hợp đồng phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực nếu pháp luật yêu cầu. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên thuê có nghĩa vụ bảo quản, sử dụng tài sản đúng mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn. Bên cho thuê có quyền giám sát việc sử dụng tài sản và yêu cầu bồi thường nếu tài sản bị hư hỏng do lỗi bên thuê. Một điểm quan trọng là hiệu lực của hợp đồng chỉ phát sinh khi đáp ứng đủ điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung. Nếu vi phạm, hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu toàn bộ hoặc một phần, gây thiệt hại lớn cho cả hai bên. Do đó, việc tư vấn pháp lý trước khi ký kết là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro.

3.1. Trình tự và thủ tục giao kết hợp đồng cho thuê tài chính

Quy trình giao kết bao gồm: đề xuất nhu cầu, thẩm định, đàm phán, soạn thảo và ký kết. Mỗi bước đều cần được ghi nhận bằng văn bản để đảm bảo tính minh bạch và có căn cứ giải quyết tranh chấp sau này.

3.2. Nội dung bắt buộc trong hợp đồng cho thuê tài chính

Hợp đồng phải nêu rõ thông tin các bên, mô tả chi tiết tài sản cố định, thời hạn thuê, giá thuê, phương thức thanh toán, quyền sở hữu cuối kỳ và điều khoản xử lý vi phạm. Thiếu sót bất kỳ điều khoản nào có thể làm giảm hiệu lực pháp lý của hợp đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả từ nghiên cứu luận văn về HDCTTC

Nghiên cứu của Lê Thị Tháo (2002) đã chỉ ra rằng thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính tại Việt Nam còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp chưa phân biệt rõ giữa cho thuê tài chính và thuê vận hành, dẫn đến kỳ vọng sai lệch về quyền sở hữu tài sản sau khi kết thúc hợp đồng. Trong khi đó, các công ty cho thuê tài chính đôi khi áp dụng điều khoản bất lợi cho bên thuê do thiếu khung pháp lý rõ ràng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng ghi nhận những kết quả tích cực: HDCTTC đã hỗ trợ hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận máy móc, thiết bị hiện đại mà không cần vay vốn ngân hàng truyền thống. Đặc biệt, trong lĩnh vực sản xuất và vận tải, hợp đồng cho thuê tài chính đã trở thành công cụ tài trợ vốn hiệu quả. Một số tổ chức tín dụng lớn như Công ty Cho thuê Tài chính Việt Nam (VFLC) hay HDBank Leasing đã xây dựng quy trình chuẩn hóa, giảm thiểu rủi ro pháp lý và tín dụng. Dù vậy, tỷ lệ tranh chấp vẫn còn cao do thiếu hiểu biết pháp lý và điều khoản hợp đồng mơ hồ. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật về HDCTTC để tạo môi trường pháp lý minh bạch, an toàn cho cả hai bên.

4.1. Thực trạng giao kết hợp đồng trong doanh nghiệp Việt Nam

Nhiều doanh nghiệp nhỏ ký hợp đồng mà không hiểu rõ bản chất pháp lý, dẫn đến tranh chấp về quyền sở hữu hoặc nghĩa vụ thanh toán. Tình trạng này phổ biến ở khu vực ngoài quốc doanh và doanh nghiệp mới thành lập.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các công ty cho thuê tài chính hàng đầu

Các công ty như VFLC và HDBank Leasing áp dụng quy trình thẩm định chặt chẽ, hợp đồng minh bạch và hỗ trợ pháp lý cho khách hàng. Đây là mô hình đáng học hỏi để nâng cao hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính.

V. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính ở Việt Nam

Để khắc phục những bất cập hiện nay, cần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê tài chính theo hướng thống nhất và chuyên biệt. Trước hết, nên xây dựng một luật riêng hoặc chương chuyên biệt trong BLDS để điều chỉnh HDCTTC, thay vì phân tán trong nhiều văn bản. Điều này giúp xác định rõ bản chất pháp lý, chủ thể tham gia, và quyền sở hữu tài sản. Thứ hai, cần mở rộng chủ thể được phép tham gia HDCTTC, không chỉ giới hạn ở tổ chức tín dụng, mà còn bao gồm các doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính và tuân thủ quy định quản lý rủi ro. Thứ ba, cần quy định rõ hình thức hợp đồng, điều kiện hiệu lực, và cơ chế giải quyết tranh chấp chuyên biệt. Cuối cùng, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, để nâng cao hiểu biết và năng lực đàm phán. Như luận văn của Lê Thị Tháo đề xuất, việc hoàn thiện khung pháp lý không chỉ bảo vệ quyền lợi các bên mà còn thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính phát triển bền vững, góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc gia.

5.1. Đề xuất xây dựng khung pháp lý chuyên biệt cho HDCTTC

Một đạo luật riêng hoặc chương chuyên biệt sẽ giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật, giảm mâu thuẫn giữa các văn bản hiện hành và nâng cao hiệu lực điều chỉnh.

5.2. Mở rộng chủ thể và tăng cường minh bạch hợp đồng

Cho phép thêm các chủ thể đủ điều kiện tham gia HDCTTC sẽ tạo ra thị trường cạnh tranh, linh hoạt hơn. Đồng thời, mẫu hợp đồng chuẩn và hướng dẫn pháp lý sẽ giúp doanh nghiệp tránh rủi ro.

VI. Tương lai của hợp đồng cho thuê tài chính trong bối cảnh kinh tế số Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh, hợp đồng cho thuê tài chính có tiềm năng mở rộng sang các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo, thiết bị y tế thông minh và công nghệ 4.0. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, hệ thống pháp lý cần được cập nhật phù hợp với đặc thù của tài sản sốtài sản công nghệ cao. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng về việc cho thuê tài chính đối với phần mềm, dữ liệu hoặc thiết bị IoT. Điều này tạo ra rào cản cho các startup và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Trong tương lai, hoạt động cho thuê tài chính cần được tích hợp với nền tảng số để tự động hóa quy trình thẩm định, ký kết và giám sát hợp đồng. Các tổ chức tín dụng cũng nên phát triển sản phẩm cho thuê linh hoạt theo chu kỳ công nghệ, cho phép nâng cấp hoặc thay thế tài sản dễ dàng. Nhìn chung, nếu được hoàn thiện pháp luật kịp thời và đồng bộ, HDCTTC sẽ trở thành trụ cột trong hệ sinh thái tài chính hỗ trợ đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

6.1. Mở rộng sang tài sản công nghệ và tài sản xanh

HDCTTC cần được điều chỉnh để bao gồm tài sản cố định phi vật thể như phần mềm, bản quyền hoặc thiết bị năng lượng mặt trời – những tài sản đang ngày càng phổ biến trong nền kinh tế hiện đại.

6.2. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý hợp đồng cho thuê tài chính

Nền tảng số giúp tự động hóa thẩm định, theo dõi thanh toán và cảnh báo rủi ro, từ đó nâng cao hiệu quả và minh bạch trong thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn một số vấn đề pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 hái quát chung về hợn đẳng cho thuê tải chính. Khái niệm chưng về cho thuê tài chính và hợp đẳng cho thuê tài chính: 1. Khái niệm cha thuê tài chỉnh: Xuất phát từ nhu câu tấn tại và phát triển của nên kinh tế, đáp ứmg nguồn vốn cho hoại động sản xuất kinh đoanh của con người, hoạt động CTTC đã xuất hiện, Hinh thức cho thuê đầu tiên dó là cho thuê các tải săn, chủ yếu là các công cụ sản xuất nông nghiệp, đất đai, quyển sử đụng nguồn nước, bỏ kéo. Dây là “quan hệ giữa một bên là chủ sở hữu tải sản nhường quyền nấm giữ và sử dụng tài sân chơ một bên khác trong một thời gian nhất định với những điều kiện do bai bên thoả thuận.

Trong thời gian cho thuê, quyên sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc bên cho thuê. Bên thuê chỉ được quyền sử dụng và phâi trả cho bên cho thuê một khoản. Các giao dịch cho thuê tải sắn xuất hiện khoảng năm 2.800 TCN tại Thành phổ Simerian (thuộc Irắc ngày nay). Trong quan hệ giao địch thời bây giờ, các bên tham gia giao địch cho thuê tài sản là các thấy tụ giữ vai trò cho thuê và nông dân là những người đi thuê công cụ sản xuất nóng nghiệp, gia súc, ruộng đất.Trong nén van minh cỗ đại như Hy lạp - La mã hay Ai cập.

hình thức thuê mua truyền thống này cũng dã xuất hiện.700 TCN, các quy định vẻ hợp dong cho thuê tài sân dã được ghi nhận trong bộ luật 1Iamtrabi đưới triều đại l3abilon. Tuy nhiên, các giao địch cho thuế tài sản thời kỹ nảy đều thuộc hình thức cho thuê kiến truyền thông (Iradictional lease). Phương thức giao dịch của hình thức náy tương tự như phương thức cho thuê vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng ngàn năm tên lại của nó, đá không có sự thay đổi lớn vẻ tính chat giao địch. Trong suất thời hạn hợp đồng, quyển sở hữu không chuyển cho bén thuê nhưng bên thuế phái chịu trách nhiệm giữ gìn tải sản đó như chính của mình.

Tỉnh cấp thiết của để tài: Việc chuyén đổi nên kinh tế từ cœ chế kế hoạch hoá tập trưng bao cấp sang, tiên kinh lễ thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mang lại cho nên kính tê Việt Nam từng bước chuyên biển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to lớn trong những năm qua. Kinh tế tăng trưởng khá, nhịp độ tăng tong san pham bình quân hang năm là 7%, Lan phát dược dây lùi, đời sống kinh tế của đông đảo quân chúng nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên để đuy trí được nhịp độ phát triển đó, tránh 1iguy cơ tụt hận, tiếp tục sự nghiệp công nghiệp hơá, hiện đại hoá, hội nhập với nên kinh tế khu vực và thể giới, dòi hồi phải có một khói lượng vốn lớn, các doanh nghiệp phái tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao, mẫu mã đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đề đạt được điều đó, vẫn để đặt.

ra là phải có có chế huy động vốn hữu hiệu nhằm khơi thông các nguồn vốn trong nước, thu hút nguồn vên dẫu tư nước ngoài, đổi mới máy móc thiết bị, đây chuyên công nghệ hiện đại. Nghị quyết Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ VI đã đặt ra nhiệm vụ: “Thát triển thị trưởng vốn bằng nhiều hình thức thu hút tiên gửi trưng và dai han qua ngân hàng vả các công ty tai chính dé cho vay đầu tư phát triển” [19,LO0] và tiếp tục khẳng định trong Nghi quyết Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ IX: “Phát triển thị trường vốn và tiền tệ, nhất là thị trường vốn trung và dai han, thu hut các nguồn vốn bên ngoái, đa dang hoá các công cụ và bình thúc tả chức tài chính, tiến tệ phi Ngân hàng vả cáo quỹ đầu tư nhằm động viên các nguẫn lục cho phái Iriển kimh xã hội” |20,192- 194] Trong diễu kiện hiện nay, khả năng tải chỉnh của các doanh nghiệp cón hạn chế, cơ chế vay vốn thông qua Ngân hàng can gặp nhiên khó khăn, Cho thuê tài chính (ñmanee leasc) - một hinh thúc tài ưrợ vốn trung và dải hạn thông qua hợp đồng cho thuê tải chính đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và đáp Yng được nhu cầu của nên kinh tế Việt Nam hiện nay + Nghiên cứu cơ sở lý luận và thục tiển các quy định của pháp luật hiện hành về LIDCTTC + Trên cơ sở nghiên cửu lý hiện vả thục tiễn trên, tiến tới tim hiểu, phân tích những quy định sủa pháp luật về HĐCTTC cỏn chưa thống nhật | Bua ra những giải pháp góp phản hoàn thiện các quy định của pháp luật về HĐCTTC, tạo điều kiệu thuận lợi cho hoạt động CTTC 6 Việt Nam phải triển. Trong phạm vì nghiên cứu của để tải, tác giá không đủ sâu nghiên cứu các quy phạm pháp luật về CLLC mả chỉ đi vào nghiên cứu các quy định của pháp luật về HĐGTTC và thực tiễn giao kết, thực luện HĐCTTC 4 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dụa trên co sở phương pháp luận của chủ nghia Mac-Lénin kết hợp với các phương pháp phản tích và tổng hợp, phương, pháp so sinh, phương pháp điều tra, đánh giá và các chủ trương, đường lỗi, quan điểm của nhà nước ta, các quy phạm pháp luật liên quan đền phát triển kinh tế - xã hội được sử dụng làm cơ số pháp lý, từ đó rút ra những kết luận có lính chất tổng hợp, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật vẻ IIDCTTC trong giai đoạn hiện nay. 5 Cơ cầu của dé tai: Beé dal được mục đích và nhiệm vụ đề ra, với những phương pháp nghiêu cứu trên, dẻ tài được bố cục như sau : Ngoài phần mở dâu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tải liêu tham khảo, luận văn gém ba chương: -_ Chương t: Khai quit chung về hợp đồng cho thuê tài chính -_ Chương 11: Giao kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chỉnh -_ Chương JII: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐCTTC & Viét Nam trong giai đoạn hiện nay.

Nguyên tắc thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Chấm dứt và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐCTTC.

định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp déng cho thuê tải chính ở việt nam trong giai đoạn hiện nay 3. Định hướng hoàn thiên. Các giải pháp góp phần hoàn thiên pháp luật về hợp đồng cho +6 thuê tải chính ở Việt nam. Kết luận Phụ lục Danh muc tải liệu tham khảo 2.

Nguyên tắc thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính. Chấm dứt và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐCTTC.

định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp déng cho thuê tải chính ở việt nam trong giai đoạn hiện nay 3. Định hướng hoàn thiên. Các giải pháp góp phần hoàn thiên pháp luật về hợp đồng cho +6 thuê tải chính ở Việt nam. Kết luận Phụ lục Danh muc tải liệu tham khảo Lời nói đầu 1.

Tỉnh cấp thiết của để tài: Việc chuyén đổi nên kinh tế từ cœ chế kế hoạch hoá tập trưng bao cấp sang, tiên kinh lễ thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã mang lại cho nên kính tê Việt Nam từng bước chuyên biển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu to lớn trong những năm qua. Kinh tế tăng trưởng khá, nhịp độ tăng tong san pham bình quân hang năm là 7%, Lan phát dược dây lùi, đời sống kinh tế của đông đảo quân chúng nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên để đuy trí được nhịp độ phát triển đó, tránh 1iguy cơ tụt hận, tiếp tục sự nghiệp công nghiệp hơá, hiện đại hoá, hội nhập với nên kinh tế khu vực và thể giới, dòi hồi phải có một khói lượng vốn lớn, các doanh nghiệp phái tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao, mẫu mã đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đề đạt được điều đó, vẫn để đặt.

ra là phải có có chế huy động vốn hữu hiệu nhằm khơi thông các nguồn vốn trong nước, thu hút nguồn vên dẫu tư nước ngoài, đổi mới máy móc thiết bị, đây chuyên công nghệ hiện đại. Nghị quyết Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ VI đã đặt ra nhiệm vụ: “Thát triển thị trưởng vốn bằng nhiều hình thức thu hút tiên gửi trưng và dai han qua ngân hàng vả các công ty tai chính dé cho vay đầu tư phát triển” [19,LO0] và tiếp tục khẳng định trong Nghi quyết Đại hội Đăng toàn quốc lần thứ IX: “Phát triển thị trường vốn và tiền tệ, nhất là thị trường vốn trung và dai han, thu hut các nguồn vốn bên ngoái, đa dang hoá các công cụ và bình thúc tả chức tài chính, tiến tệ phi Ngân hàng vả cáo quỹ đầu tư nhằm động viên các nguẫn lục cho phái Iriển kimh xã hội” |20,192- 194] Trong diễu kiện hiện nay, khả năng tải chỉnh của các doanh nghiệp cón hạn chế, cơ chế vay vốn thông qua Ngân hàng can gặp nhiên khó khăn, Cho thuê tài chính (ñmanee leasc) - một hinh thúc tài ưrợ vốn trung và dải hạn thông qua hợp đồng cho thuê tải chính đáp ứng được nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và đáp Yng được nhu cầu của nên kinh tế Việt Nam hiện nay Hoạt dòng CTTC đã được nhiều luật gia cũng như các nhà kinh tế quan tâm. nghiên củu đưới các góc độ khác nhau như: “Ÿi hiểu và sử dựng thị trường tn dụng thuê mua" của Trần Tô Tử, Nguyễn Hải Sản - XE Thành phố Hỗ Chí Minh, 1996; “Cơ sỡ pháp lý cho hoạt dộng thuê mua ở Liệt Nam - thực trạng và giải pháp” - luận văn Thạc sỹ của tác giả Doãn Hồng Nhung,1998; “ 77oàn thiện cơ chế CTTC tại Việt Nam" - luận văn Thạc sỹ kinhtế của tác gid Bui Quang Hai, “Tin dung thud mua-hình thức đầu tư mỏi”, Lạp chi Tài chỉnh số ra tháng 12/1996; “Những vướng mắc cần thảo gỡ trong hoạt động CTTC", Tạp chí Ngân hàng số 6/1999. Trang các công trình trên các tác giả đã trình bảy, phân lích khá chỉ tiết một số vẫn dé ly luận và thực tiễn vẻ hoạt động CELC ở Việt Mam theo quy định ND 64/CP, đã khắc họa được bức tranh chung vẻ hoạt động cho thuế tài chính, cung câp các thẳng, tim về kinh nghiệm thực hiện nghiệp vụ CTTC ở cáo nước trong khu vực và thế giới và nghiên cứu nghiệp vụ cho thuê dưới giác dộ kính tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ