phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề cơ bản về hoạt động kiểm tra sau thông quan. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình Chƣơng 4: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN Tại Chƣơng này bao gồm có 3 phần chính: - Phần thứ nhất: Tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan đến hoạt động KTSTQ trong những năm gần đây, từ đó xác định rõ những vấn đề gì đã đƣợc nghiên cứu, những vấn đề gì cần tiếp tục nghiên cứu, đào sâu thêm cũng nhƣ cần thiết phải kế thừa. - Phần thứ hai: Là những vấn đề cơ bản mang tính lý luận liên quan đến hoạt động KTSTQ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tế về hoạt động KTSTQ. - Phần thứ ba: Kinh nghiệm hoạt động KTSTQ tại một số địa phƣơng trong nƣớc và 2 nƣớc trên thế giới.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tổng quan - Lực lƣợng KTSTQ trong ngành Hải quan Việt Nam đƣợc thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ năm 2002, là thời điểm nghiệp vụ KTSTQ đƣợc quy định tại Luật Hải quan năm 2002.
Tuy nhiên, hoạt động KTSTQ bắt đầu hoạt động có nề nếp và hiệu quả là từ năm 2006, thời điểm Nghị định 154/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về KTSTQ đƣợc ban hành và có hiệu lực thi hành. Từ đó, hoạt động KTSTQ đã lớn mạnh cả chiều rộng và chiều sâu. Tuy nhiên, do nghiệp vụ này vẫn còn non trẻ so với lịch sử 69 năm hình thành và phát triển của ngành Hải quan Việt Nam nên rất nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động này cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, trong đó vấn đề quan trọng nhất là làm thế nào để hoàn thiện hoạt động KTSTQ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. - Trƣớc đòi hỏi của việc hoàn thiện công tác KTSTQ, thời gian qua, ngành Hải quan đã có nhiều hội thảo và hội nghị chuyên đề trong nội bộ ngành về việc làm thế nào để hoàn thiện công tác KTSTQ; Tổng cục Hải quan cũng đã đƣa ra một số giải pháp triển khai trong thực tế.
Theo đó, một số vấn đề dần đƣợc luật hóa và truy trình hóa vào các văn bản quy phạm pháp luật và đã góp phần nhất định vào việc nâng cao hiệu quả công tác KTSTQ nhƣ: Mô hình tổ chức bộ máy, phƣơng pháp 4 KTSTQ, công tác nhân sự. - Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý của các tác giả sau đây: + Trần Vũ Minh (2010), Mô hình kiểm tra sau thông quan ở một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng cho Việt Nam, luận án tiến sĩ: công trình này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về mô hình KTSTQ tại một số nƣớc trên thế giới; phân tích thực trạng mô hình của Hải quan Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất mô hình KTSTQ áp dụng cho Hải quan Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động KTSTQ trong ngành Hải quan. Mô hình đề xuất có nhiều điểm mới, phù hợp với phƣơng pháp quản lý hải quan hiện đại trên cơ sở chủ yếu áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro. Vì nhiều lý do nhƣ hạ tầng kỹ thuật, trình độ con ngƣời, điều kiện địa lý.
mô hình của luận án này vẫn chƣa đƣợc triển khai áp dụng tại Hải quan Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả luận án này là tài liệu bổ ích để hoàn thiện luận văn của tác giả. + Cuốn “Nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan” của tác giả Phạm Ngọc Hữu năm 2004: Đây là cuốn thuần túy về nghiệp vụ hƣớng dẫn các kỹ năng, công việc cần thực hiện trong quá trình thực hiện KTSTQ, cụ thể những vấn đề nhƣ: các thức kiểm tra, các bƣớc tiến hành, phƣơng pháp đối chiếu- so sánh, phân tích đối với một vụ việc cụ thể. Tại thời điểm Cuốn “Nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan” đƣợc biên soạn, do nghiệp vụ này còn mới mẻ nên nhiều điểm còn bộc lộ bất cập, không còn phù hợp với các điều kiện thực thi hiện nay là KTSTQ dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ thuật quản lý rủi ro hiện đại.
Tuy vậy, nhiều vấn đề đƣợc đề cập vẫn mang tính thời sự cần đƣợc kế thừa và hoàn thiện thêm. + Mai Thế Huyên (2002), Cơ sở lý luận thực tiễn nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ KTSTQ trong ngành Hải quan, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng cục Hải quan: Đây là thời điểm Luật Hải quan đƣợc ban hành, trong đó có nội dung KTSTQ, nên công trình này bƣớc đầu đã đƣa ra đƣợc cơ sở lý luận về nghiệp vụ KTSTQ, làm nền tảng cho việc hoàn thiện lý luận cũng nhƣ các nghiệp vụ về KTSTQ. Cũng nhƣ Cuốn “Nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan” của tác giả Phạm Ngọc Hữu, công trình của Mai Thế Huyên còn bộc lộ một số vấn đề 5 cần hoàn thiện để theo kịp với quá trình cải cách thủ tục của ngành hải quan cũng nhƣ những kỹ thuật mới đƣợc áp dụng trong hoạt động KTSTQ. + Các tác giả là công chức trong ngành Hải quan, có bài viết đăng trên “Tạp chí nghiên cứu hải quan”, Báo Hải quan từ năm 2005 đến nay: hầu hết các bài viết là những tóm lƣợc, phân tích, đánh giá và đề xuất cụ thể đối với từng trƣờng hợp cụ thể đã xẩy ra trong thực tế về nghiệp vụ KTSTQ.
Trong đó, có một số bài đề cập khá sâu đến vấn đề hoàn thiện hoạt động KTSTQ, đây là những tài liệu tham khảo cần thiết để hoàn thành luận văn này. Nhƣ vậy, những công trình nghiên cứu, bài viết trên, đặc biệt là công trình của tác giả Trần Vũ Minh, ở góc độ này hay góc độ khác đã hệ thống hoá, làm sáng tỏ một số vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn có liên quan đến hoạt động KTSTQ, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau và thực tế quản lý của nhiều địa phƣơng khác nhau. Các đề tài đã có những đóng góp nhất định trong việc nâng cao hiệu quả KTSTQ, đây là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích để Luận văn này kế thừa và tiếp tục phân tích, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, theo từng giai đoạn phát triển kinh tế của Đất nƣớc nói chung và hoạt động XNK nói riêng, có những điều kiện, những đòi hỏi về mặt chính sách và quản lý khác nhau, vì thế không có giải pháp hiệu quả cho tất cả các giai đoạn phát triển cũng nhƣ tại tất cả các địa phƣơng.
Mặt khác, từ năm 2011 đến nay, chƣa có một nghiên cứu cụ thể và sâu rộng nào về hoạt động KTSTQ trong ngành Hải quan Việt Nam nói chung và tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình nói riêng. Đề tài này hy vọng sẽ góp phần hoạt thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới.2 Những vấn đề cần quan tâm - Từ kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên, đúc rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu nội dung đề tài đã chọn. - Tiếp tục hoàn thiện những giải pháp đã có để nâng cao hiệu quả công tác KTSTQ. 6 - Tìm hiểu nguyên nhân vì sao công tác KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình vẫn bộc lộ những yếu kém, tồn tại; hiệu quả mang lại từ việc KTSTQ còn hạn chế, chƣa đảm bảo mục đích và nhiệm vụ của công tác KTSTQ.
- Chƣa có một nghiên cứu sâu rộng, cụ thể về hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình. - Cố gắng đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bỉnh, đặc biệt là các giải pháp mới.2 Một số vấn đề cơ bản về hoạt động kiểm tra sau thông quan 1.1 Khái quát chung về kiểm tra sau thông quan 1.1 Quá trình hình thành nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan Chúng ta biết rằng, hoạt động ngoại thƣơng giữa các nƣớc xuất hiện từ rất sớm, có lẽ là từ khi con ngƣời biết sản xuất ra hàng hóa và có nhu cầu giao lƣu, trao đổi để thỏa mãn nhu cầu bản thân, gia đình đối với những hàng hóa mà bản thân và gia đình chƣa sản xuất đƣợc. Hoạt động đó dần đƣợc hoàn thiện và ngày càng phát triển, đồng thời đƣợc định danh bằng khái niệm “hoạt động Xuất khẩu – Nhập khẩu” (Export- Import). Nhƣ vậy, vấn đề đặt ra đối với một chính quyền hay nhà nƣớc là phải quản lý hoạt động XNK đó.
Để quản lý, tất cả các nƣớc đều phải lập ra một tổ chức thay mặt nhà nƣớc để quản lý. Hầu hết các nƣớc trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thành lập tổ chức này và đƣợc gọi là “Cơ quan hải quan” (Customs). Cơ quan hải quan quản lý hoạt động XNK bằng luật pháp và các nghiệp vụ chuyên ngành. Theo đó, để hàng hóa xuất- nhập qua lãnh thổ một nƣớc, cơ quan hải quan chia ra 3 giai đoạn để quan lý, theo dõi và kiểm tra, đó là Trước thông quan- Trong thông quan và Sau thông quan (tƣơng ứng với: trƣớc khi hàng hóa XNK, trong quá trình hàng hóa làm thủ tục XNK và sau khi hàng hóa đã XNK qua lãnh thổ) và dĩ nhiên mỗi giai đoạn đều phải có một nghiệp vụ riêng để quản lý.
Ở đây, luận văn đi sâu vào giai đoạn Sau thông quan mà cụ thể hơn là Kiểm tra sau thông quan (xem sơ đồ 1. 7 Hoạt động quản lý của cơ quan hải quan Trƣớc Trong Sau thông quan thông quan thông quan Sơ đồ 1.1 Hoạt động quản lý của cơ quan hải quan đối với hàng hóa XNK Nghiệp vụ KTSTQ ra đời muộn hơn so với nghiệp vụ trƣớc thông quan và trong thông quan, lý do chủ yếu là: khi hoạt động XNK ngày càng phát triển, mở rộng và đa dạng nên đòi hỏi cơ quan hải quan phải tạo thuận lợi cho hoạt động này, mặt khác đã xuất hiện các hiện tƣợng gian lận, trốn thuế, bán phá giá.nên đòi hỏi phải có biện pháp kiểm soát, biện pháp đó là Kiểm tra sau thông quan.