Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 9310310) với đề tài "Hoạt động du lịch cộng đồng của hộ gia đình Khmer tại tỉnh Trà Vinh" do nghiên cứu sinh Tạ Duy Linh thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan An và PGS. Huỳnh Ngọc Thu (bảo vệ năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển du lịch tại Việt Nam, sự tham gia của các cộng đồng dân tộc thiểu số vào mô hình du lịch dựa vào cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT) được định hướng như một công cụ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ bảo tồn văn hóa truyền thống. Tại tỉnh Trà Vinh, định hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn đã được cụ thể hóa qua Quyết định số 672/QĐ-UBND ngày 20/5/2014 phê duyệt Đề án "Phát triển du lịch tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025" và các văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy Trà Vinh (2020). Từ năm 2015, mô hình du lịch cộng đồng gắn với văn hóa Khmer bắt đầu được triển khai tại Làng Văn hóa Du lịch Khmer (ấp Ba Se A, xã Lương Hòa, huyện Châu Thành), sau đó mở rộng sang các huyện Trà Cú, Cầu Kè và Tiểu Cần.

Tuy nhiên, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây về du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam phần lớn tiếp cận ở góc độ kinh tế học, quản trị kinh doanh hoặc xã hội học đại cương, chưa có công trình nào phân tích một cách hệ thống, toàn diện từ góc độ Dân tộc học/Nhân học về sự tham gia của hộ gia đình Khmer tại Trà Vinh dưới lăng kính nhận thức nguồn lực và lý thuyết trao đổi xã hội.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là bổ sung luận cứ khoa học về quá trình phát triển loại hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam thông qua việc phân tích sự tham gia của hộ gia đình Khmer vào hoạt động du lịch tại tỉnh Trà Vinh; từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm phát huy vai trò chủ thể, chuyển biến nhận thức và nâng cao hiệu quả tham gia của người dân gắn với chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.
  2. Phân tích thực trạng sự tham gia của hộ gia đình Khmer vào hoạt động du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh.
  3. Xác định các yếu tố tác động (yếu tố thúc đẩy và rào cản) đến sự tham gia của hộ gia đình Khmer.
  4. Chỉ ra hệ quả của việc tham gia hoạt động du lịch cộng đồng đến đời sống kinh tế - xã hội của hộ gia đình Khmer.
  5. Phân tích xu hướng phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
  6. Đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia của hộ gia đình Khmer.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Sự tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng của hộ gia đình Khmer ở tỉnh Trà Vinh hiện nay diễn ra như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự tham gia của hộ gia đình Khmer vào hoạt động du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh?
  • Câu hỏi 3: Bằng cách nào để tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia du lịch của hộ gia đình Khmer ở tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh hội nhập và phát triển?

Tương ứng với 3 câu hỏi, 3 giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

  • Giả thuyết 1: Tùy thuộc vào điều kiện thực tiễn mà hộ gia đình Khmer sẽ có những nội dung và hình thức khác nhau để tham gia vào hoạt động du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh.
  • Giả thuyết 2: Các yếu tố nhận thức của người dân, lợi ích kinh tế, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch của Nhà nước, trình độ học vấn của người dân và cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật có ảnh hưởng nhất định đến sự tham gia của hộ gia đình Khmer vào hoạt động du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh.
  • Giả thuyết 3: Nâng cao năng lực nhận thức, hoàn thiện cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, tăng cường chính sách hỗ trợ của Nhà nước, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá thương hiệu điểm đến du lịch và xây dựng quy ước tham gia du lịch được xem là những giải pháp tích cực để tăng cường và nâng cao hiệu quả sự tham gia của hộ gia đình Khmer hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch cộng đồng của hộ gia đình người Khmer, tập trung chủ yếu vào sự tham gia của hộ gia đình người Khmer tại tỉnh Trà Vinh.
  • Phạm vi nội dung: Quá trình tham gia (hình thức, nội dung), các yếu tố tác động (thúc đẩy và rào cản) và tác động của du lịch đến đời sống kinh tế - xã hội của hộ gia đình Khmer.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 05 địa bàn thuộc tỉnh Trà Vinh gồm thành phố Trà Vinh và 04 huyện: Châu Thành, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 (thời điểm ban hành Quyết định 672/QĐ-UBND) đến tháng 05/2021 (thời điểm hoàn tất thu thập số liệu sơ cấp, có bổ sung phỏng vấn sâu đến tháng 06/2022).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề qua ba nhóm công trình chính:

1. Nhóm nghiên cứu lý thuyết gắn với phát triển du lịch cộng đồng

  • Lý thuyết trao đổi xã hội (Social Exchange Theory - SET): Luận án phân tích các công trình của Perdue, Long & Allen (1990), Ap (1992), Fariborz Aref (2010), Phạm Hồng Long (2012), Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2016). Các tác giả này chỉ ra rằng thái độ và hành vi tham gia du lịch của người dân phụ thuộc vào việc họ nhận thức lợi ích kinh tế - xã hội mang lại có vượt trội hơn chi phí hoặc tác động tiêu cực hay không. Tác giả luận án chỉ ra hạn chế của một số nghiên cứu trước (như Fariborz Aref hay Nguyễn Thị Mỹ Hạnh) là chưa phân tích sâu khía cạnh môi trường và hạn chế của khung lý thuyết SET khi ứng dụng vào mô hình thực hành sinh kế tộc người.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Điểm qua các công trình của Jamal (1995), Sautter & Leisen (1999), Eagles et al. (2002), Wan (2011), Nguyễn Thị Thanh Kiều (2018), Lã Thị Bích Quang (2021), Đặng Trung Kiên (2020). Các nghiên cứu này phân chia mạng lưới tham gia thành 4 nhóm (Chính quyền, Doanh nghiệp, Cộng đồng bản địa, Khách du lịch/NGOs). Luận án nhận diện khoảng trống: mô hình 4 bên truyền thống chưa bao quát được vai trò của chủ thể thứ năm trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam là "đơn vị tư vấn chuyên môn".
  • Lý thuyết phát triển bền vững trong du lịch: Kế thừa Báo cáo Brundtland (1987), Hội nghị Rio (1992), Trương Thị Thu Hằng (2016), Greg Richards (2000), Phạm Trung Lương (2002), Daniela Dumbraveanu (2004), UNEP & UNWTO (2005, 2013, 2015), Edgell (2006), La Nữ Ánh Vân (2012), Nguyễn Anh Dũng (2018), Saarinen (2006), Sharpley (2000). Luận án tiếp thu 3 trụ cột (kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường) cùng chiều kích thứ tư là "chính sách Nhà nước" trong phân tích tính bền vững của sinh kế du lịch tộc người.

2. Nhóm công trình về phát triển du lịch cộng đồng và vai trò cộng đồng

Luận án khảo sát các nghiên cứu của Jafari (2000), Wall & Mathieson (2006), Đặng Thanh Nam (2013), Thái Thảo Ngọc (2016), Đỗ Tuyết Ngân (2018), Gutierrez (2019). Tác giả lưu ý các bài học thực tiễn từ Philippines (Gutierrez, 2019) khi phát triển du lịch cộng đồng thiếu kiểm soát dẫn đến suy thoái điểm đến và phá vỡ môi trường sinh thái.

3. Nhóm nghiên cứu về sự tham gia của người dân

Bao gồm các công trình của Simmons (1994), Tosun (1999), Wang & Fesenmaier (2004), Wenjun Li (2005), Võ Sáng Xuân Lan (2009), Nguyễn Thị Lan Hương (2016), Nguyễn Đoàn Hạnh Dung & Trương Thị Thu Hà (2019), Trương Đức Thuận (2020), Keogh (1990), Garrod (2003), Phạm Thị Hồng Cúc (2009), Muganda Michael (2009), Santran Kang (2008), Zhang (2010). Các nghiên cứu chỉ ra các cấp độ và hình thức tham gia từ thụ động (làm thuê) đến chủ động (đồng quản lý, ra quyết định).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án định vị nghiên cứu vào khoảng trống: giải thích cơ chế tham gia của hộ gia đình dân tộc thiểu số Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trong mối quan hệ đa chiều với 5 bên liên quan, kết hợp giữa khảo sát định lượng nhân khẩu học/kinh tế với phương pháp điền dã dân tộc học chuyên sâu nhằm làm rõ nhận thức và thực hành sinh kế du lịch.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm "Hộ gia đình": Luận án phân tích các góc độ kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2006), xã hội học (Nguyễn Thị Hồng Vững, 2020), pháp lý (Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Đất đai 2013). Dưới góc nhìn Dân tộc học, tác giả tiếp cận định nghĩa của Ngô Thị Phương Lan, Trần Tấn Đăng Long & Nguyễn Mạnh Tiến (2014): hộ gia đình là đơn vị xã hội mà ở đó một cá nhân hay một nhóm người cùng ở chung và cùng chung kinh tế, phân biệt với khái niệm gia đình (dựa trên quan hệ hôn nhân và huyết thống). Định nghĩa thao tác của luận án: "hộ gia đình là một đơn vị xã hội, ở đó có một người hay một nhóm người cùng ở chung và ăn chung với nhau dưới một mái nhà".
  • Lý thuyết sử dụng: Kết hợp 3 khung lý thuyết chính: Lý thuyết trao đổi xã hội (SET), Lý thuyết các bên liên quan (bổ sung thành tố đơn vị tư vấn chuyên môn) và Lý thuyết phát triển bền vững (với 4 chiều kích: kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường, chính sách).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (mixed methods), kết hợp giữa điền dã dân tộc học định tính và điều tra khảo sát định lượng.

Phương pháp Quy mô / Đối tượng / Địa bàn Kỹ thuật & Công cụ thu thập / Xử lý
Điền dã dân tộc học 5 đợt điền dã tại Trà Vinh: 09/2019 (khảo sát tổng thể); 12/2019 (14 ngày tại 5 huyện/TP); 06/2020 (mùa khách nội địa); 10/2020 (Lễ hội Ok Om Bok); bổ sung 05-06/2022. Quan sát tham dự (06 cuộc: 04 cuộc tại điểm đến Trà Vinh, 02 cuộc tại sự kiện xúc tiến ở TP.HCM); ghi nhật ký điền dã.
Phỏng vấn sâu (Định tính) 52 cuộc phỏng vấn sâu chia thành 6 nhóm:
- Nhóm 1 (35 ca): Hộ Khmer đang tham gia, dự định tham gia, không tham gia.
- Nhóm 2 (05 ca): Cán bộ UBND huyện, Sở VHTTDL, Trung tâm Xúc tiến Du lịch, Dự án SME Trà Vinh, Hiệp hội Du lịch ĐBSCL.
- Nhóm 3 (03 ca): 01 chuyên gia Nhân học du lịch (ĐHQG TP.HCM), 02 chuyên gia đơn vị tư vấn phát triển du lịch.
- Nhóm 4 (04 ca): Khách du lịch tại điểm đến.
- Nhóm 5 (02 ca): Giám đốc doanh nghiệp lữ hành nội địa và quốc tế.
- Nhóm 6 (03 ca): 02 Sư Phật giáo Nam tông Khmer, 01 tiểu thương người Kinh tại phum sóc.
Phỏng vấn trực tiếp cá nhân (thời lượng 60 - 120 phút/ca). Phân tích nội dung (content analysis), phân tích diễn ngôn và đối chiếu dữ liệu.
Khảo sát bảng hỏi (Định lượng) 135 hộ gia đình Khmer:
- 35 hộ đang trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng (khảo sát toàn bộ).
- 100 hộ chưa tham gia nằm trong quy hoạch du lịch đến năm 2030 của Sở VHTTDL Trà Vinh (20 hộ/địa bàn x 5 địa phương, chọn mẫu có chủ đích).
200 khách du lịch nội địa: Lấy mẫu hạn ngạch (quota) ngẫu nhiên 20% lượng khách theo thống kê 3 tháng gần nhất của TTXT Du lịch Trà Vinh năm 2020.
Bảng hỏi cấu trúc (nhân khẩu, thu nhập, nhận thức, mức độ tham gia, đánh giá dịch vụ). 02 thông tín viên người Khmer (trình độ thạc sĩ văn hóa học) hỗ trợ điều tra. Xử lý số liệu thống kê mô tả bằng phần mềm Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

  • Cơ sở lý luận: Hệ thống hóa các khái niệm công cụ (hộ gia đình, du lịch cộng đồng), các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững và các khung lý thuyết tiếp cận (Trao đổi xã hội, Các bên liên quan, Phát triển bền vững).
  • Cơ sở thực tiễn:
    • Khái quát điều kiện tự nhiên, dân cư và đặc điểm văn hóa tộc người Khmer tại tỉnh Trà Vinh (dân số, cơ cấu phum sóc, tín ngưỡng Phật giáo Nam tông, vai trò của ngôi chùa Khmer và hệ thống lễ hội truyền thống như Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Ok Om Bok).
    • Đánh giá tổng quan hiện trạng ngành du lịch Trà Vinh và hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển du lịch của tỉnh (triển khai Đề án theo Quyết định 672/QĐ-UBND, các nghị quyết hỗ trợ phát triển du lịch của HĐND tỉnh và sự đồng hành của Dự án Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa - SME Trà Vinh do Canada tài trợ).
    • Xác lập mô hình 5 bên liên quan tham gia vào hệ sinh thái du lịch cộng đồng Trà Vinh: (1) Hộ gia đình và cộng đồng Khmer; (2) Chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nhà nước; (3) Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành; (4) Khách du lịch; (5) Đơn vị tư vấn chuyên môn.

Chương 2: Thực trạng tham gia của hộ gia đình Khmer trong hoạt động du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh

  • Hệ thống điểm đến và sản phẩm du lịch:
    • Điểm đến trọng điểm là Làng Văn hóa Du lịch Khmer (ấp Ba Se A, xã Lương Hòa, huyện Châu Thành) gắn với danh thắng Ao Bà Om, chùa Âng; các điểm phụ cận tại huyện Trà Cú, Cầu Kè, Tiểu Cần và TP. Trà Vinh.
    • Chuỗi sản phẩm du lịch gồm: dịch vụ lưu trú homestay tại nhà dân Khmer; ẩm thực truyền thống Khmer (bún nước lèo, bánh tét Trà Cuôn, cốm dẹp...); biểu diễn nghệ thuật dân gian (múa Rô-băm, Dù-kê, hòa tấu dàn nhạc ngũ âm); trải nghiệm làng nghề thủ công (đan lát, chạm khắc hoa văn); tham quan chùa Khmer và trải nghiệm nếp sống phum sóc.
  • Nguồn nhân lực hộ gia đình: Phần lớn lao động tham gia là thành viên trong hộ gia đình, trình độ học vấn chủ yếu ở mức phổ thông, năng lực ngoại ngữ còn hạn chế, kỹ năng phục vụ ban đầu mang tính tự phát và được bồi dưỡng dần qua các dự án.
  • Quá trình và hình thức tham gia:
    • Tham gia tập huấn: Hộ gia đình Khmer tham gia các lớp bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ du lịch, vệ sinh an toàn thực phẩm, kỹ năng đón tiếp khách do Sở VHTTDL, Dự án SME và các đơn vị tư vấn tổ chức giai đoạn 2015–2020.
    • Tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ: 35 hộ gia đình trực tiếp cung cấp dịch vụ homestay, dịch vụ ăn uống ẩm thực, cho thuê trang phục truyền thống, bán hàng nông sản và quà lưu niệm.
    • Tham gia xúc tiến quảng bá: Tham gia các đoàn quảng bá hình ảnh điểm đến Khmer Trà Vinh tại các hội chợ du lịch, ngày hội văn hóa ở TP.HCM và Hà Nội.

Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tham gia du lịch của hộ gia đình Khmer và xu hướng phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh hội nhập

  • Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia:
    • Yếu tố thúc đẩy: Chính sách hỗ trợ vốn, hạ tầng và kỹ thuật từ chính quyền và Dự án SME; kỳ vọng đa dạng hóa sinh kế và tăng thu nhập hộ gia đình; ý thức bảo tồn và giới thiệu bản sắc văn hóa tộc người; sự kết nối của doanh nghiệp lữ hành và đơn vị tư vấn.
    • Rào cản hạn chế: Trình độ học vấn và ngoại ngữ của chủ hộ còn thấp; khó khăn về nguồn vốn tự có để nâng cấp cơ sở vật chất đạt chuẩn du lịch; hệ thống giao thông hạ tầng kết nối vào một số phum sóc còn yếu; tâm lý ngại thay đổi hoặc e ngại rủi ro kinh doanh; kinh nghiệm quản trị du lịch còn hạn chế.
  • Tác động đến đời sống kinh tế - xã hội: Hoạt động du lịch tạo thêm việc làm tại chỗ, chuyển dịch cơ cấu thu nhập từ thuần nông sang nông nghiệp kết hợp dịch vụ, nâng cao vai trò của phụ nữ Khmer trong quản lý kinh tế hộ, tăng cường tính gắn kết cộng đồng và thúc đẩy việc giữ gìn cảnh quan phum sóc sạch đẹp.
  • Xu hướng phát triển du lịch cộng đồng Trà Vinh: Định hình Trà Vinh thành điểm đến vệ tinh mang bản sắc văn hóa Khmer đặc trưng tại đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thiện chuỗi cung ứng dịch vụ liên kết phum sóc; xây dựng hương ước/quy ước cộng đồng nhằm đảm bảo chia sẻ lợi ích công bằng và giảm thiểu các xung đột xã hội tiềm ẩn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án bổ sung cách tiếp cận Dân tộc học/Nhân học trong nghiên cứu du lịch cộng đồng tại Việt Nam, làm rõ cơ chế tương tác giữa cấu trúc xã hội tộc người (hộ gia đình, phum sóc, thiết chế nhà chùa) với hoạt động kinh tế dịch vụ hiện đại.
  2. Hoàn thiện khung lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) trong bối cảnh du lịch cộng đồng Việt Nam bằng việc nhận diện và xác lập vai trò cấu thành của bên thứ năm: "Đơn vị tư vấn chuyên môn" (bên cạnh 4 bên truyền thống: Nhà nước, Người dân, Doanh nghiệp lữ hành, Du khách).
  3. Làm rõ sự vận hành của Lý thuyết trao đổi xã hội (SET) đối với nhóm cư dân thiểu số: sự tham gia của hộ gia đình Khmer bắt nguồn từ đánh giá lợi ích kinh tế thực tế song hành với nhu cầu khẳng định và bảo tồn giá trị văn hóa tộc người.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng toàn diện (52 cuộc phỏng vấn sâu, khảo sát 135 hộ gia đình Khmer và 200 du khách) phản ánh chân thực thực trạng du lịch cộng đồng tại Trà Vinh giai đoạn 2014–2021.
  2. Đánh giá hiệu quả thực thi các chính sách phát triển du lịch của tỉnh Trà Vinh và các chương trình hỗ trợ sinh kế quốc tế (Dự án SME).

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp gồm 5 nhóm chính:

  • Nâng cao năng lực và nhận thức: Mở rộng các lớp tập huấn nghiệp vụ thực hành, kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ phù hợp với trình độ tiếp thu của người dân Khmer; nâng cao nhận thức cộng đồng về du lịch bền vững.
  • Hoàn thiện hạ tầng cơ sở: Đầu tư đồng bộ hệ thống giao thông tiếp cận phum sóc, bảng chỉ dẫn du lịch, công trình vệ sinh và xử lý rác thải tại các điểm du lịch cộng đồng.
  • Tăng cường chính sách hỗ trợ: Đơn giản hóa thủ tục tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi; duy trì các gói hỗ trợ kỹ thuật ban đầu cho các hộ gia đình Khmer đầu tư homestay và dịch vụ ăn uống.
  • Đẩy mạnh xúc tiến và liên kết thị trường: Kết nối chặt chẽ giữa các hộ gia đình với các công ty lữ hành tại TP.HCM và Cần Thơ; xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch Khmer Trà Vinh trên các nền tảng số.
  • Xây dựng quy ước cộng đồng: Ban hành quy chế quản lý điểm đến và cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch giữa các hộ trực tiếp và gián tiếp tham gia du lịch nhằm bảo đảm ổn định trật tự xã hội tại phum sóc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn mẫu du khách: Do thời gian khảo sát thực địa rơi vào giai đoạn chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 (các đường bay quốc tế đóng cửa), mẫu khảo sát 200 khách du lịch chỉ thực hiện được đối với phân khúc khách nội địa, chưa thu thập được dữ liệu định lượng từ du khách quốc tế.
  • Quy mô hộ tham gia: Số lượng hộ gia đình Khmer trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ tại thời điểm nghiên cứu còn ở mức khiêm tốn (35 hộ), mô hình tại một số địa phương mới ở giai đoạn đầu thử nghiệm nên dữ liệu đánh giá hiệu quả kinh tế dài hạn còn hạn chế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi điều tra đối với phân khúc khách du lịch quốc tế (inbound) để đánh giá sự khác biệt trong nhu cầu trải nghiệm văn hóa Khmer.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) nhằm đánh giá những biến đổi dài hạn về cấu trúc xã hội, sinh kế và sự biến đổi văn hóa của người Khmer sau 5–10 năm tham gia hoạt động du lịch.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh mô hình du lịch cộng đồng Khmer Trà Vinh với các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống như Sóc Trăng, An Giang và Kiên Giang.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học văn hóa, Du lịch học, Xã hội học nông thôn và Việt Nam học; đặc biệt có giá trị ở phần thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học định lượng (Chương 1 và Chương 2).
  • Đối với các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển sinh kế du lịch tộc người, triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đối với doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển: Hỗ trợ thông tin thực địa chi tiết về chuỗi sản phẩm, đặc điểm nhân lực và tập quán phum sóc phục vụ việc xây dựng tour tuyến du lịch văn hóa bền vững và triển khai các dự án hỗ trợ cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "hộ gia đình Khmer" theo tiêu chí nào để phân biệt với "gia đình"?

Luận án tiếp cận theo quan điểm Dân tộc học của Ngô Thị Phương Lan, Trần Tấn Đăng Long & Nguyễn Mạnh Tiến (2014) và xác định định nghĩa thao tác: "hộ gia đình là một đơn vị xã hội, ở đó có một người hay một nhóm người cùng ở chung và ăn chung với nhau dưới một mái nhà". Luận án phân biệt rõ: gia đình là đơn vị xã hội dựa trên mối quan hệ hôn nhân và huyết thống, trong khi hộ gia đình dựa trên cơ sở cùng nơi cư trú và cùng chung kinh tế (các thành viên có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống).

2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng của luận án được thực hiện như thế nào?

Luận án tiến hành khảo sát hai nhóm mẫu:

  • Nhóm hộ gia đình Khmer (135 hộ): Khảo sát toàn bộ 35 hộ đang trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch; kết hợp chọn mẫu có chủ đích 100 hộ chưa tham gia nhưng nằm trong danh sách quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2030 của Sở VHTTDL tỉnh Trà Vinh (20 hộ/huyện x 5 địa phương).
  • Nhóm khách du lịch (200 khách nội địa): Lấy mẫu hạn ngạch (quota) ngẫu nhiên với tỷ lệ 20% dựa trên số liệu thống kê lượt khách đến các điểm du lịch Khmer của Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Trà Vinh trong 3 tháng gần nhất năm 2020.

3. Đơn vị liên quan thứ năm mà tác giả bổ sung vào mô hình các bên liên quan là gì?

Tác giả bổ sung "Đơn vị tư vấn chuyên môn" (tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực du lịch được cơ quan quản lý nhà nước ký hợp đồng tư vấn chiến lược, tập huấn kỹ năng và kết nối sản phẩm). Đây là chủ thể giữ vai trò trung gian chuyển giao kỹ thuật và định hình sản phẩm giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp lữ hành.

4. Không gian và thời gian điền dã dân tộc học của luận án được triển khai cụ thể ra sao?

Khảo sát thực địa diễn ra tại 5 địa bàn thuộc tỉnh Trà Vinh: TP. Trà Vinh và các huyện Châu Thành, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú. Tác giả thực hiện 5 đợt điền dã chính: tháng 9/2019, tháng 12/2019 (14 ngày), tháng 6/2020 (mùa khách nội địa), tháng 10/2020 (dịp lễ hội Ok Om Bok) và các đợt phỏng vấn bổ sung vào tháng 5–6/2022.

5. Những rào cản chính hạn chế sự tham gia du lịch của hộ gia đình Khmer tại Trà Vinh là gì?

Các rào cản chính gồm: trình độ học vấn và năng lực ngoại ngữ của chủ hộ còn hạn chế; thiếu vốn tự có để đầu tư cơ sở hạ tầng lưu trú/ăn uống đạt chuẩn; hạ tầng giao thông kết nối phum sóc chưa đồng bộ; tâm lý e ngại rủi ro kinh tế khi chuyển đổi từ sinh kế nông nghiệp truyền thống sang làm dịch vụ; thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản trị kinh doanh du lịch.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Dân tộc học của tác giả Tạ Duy Linh là công trình nghiên cứu hệ thống về sự tham gia của hộ gia đình Khmer vào hoạt động du lịch cộng đồng tại tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2014–2021. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp giữa điền dã dân tộc học chuyên sâu và khảo sát thống kê mô tả, luận án đã làm rõ cơ chế vận hành, các yếu tố tác động và hệ quả kinh tế - xã hội của sinh kế du lịch tại các phum sóc Khmer. Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc hoàn thiện khung lý thuyết các bên liên quan trong du lịch cộng đồng, đồng thời cung cấp hệ thống cứ liệu thực chứng phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa tộc người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.