Mở đầu: Nêu lên sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận. Tổng quan: Tổng quan về nguồn nhân lực thé giới, tổng quan nguồn nhân lực Việt Nam, tổng quan các tai liệu sử dụng, cũng như giới thiệu tong quan về Công ty Cổ phần Nafoods Group và Văn phòng đại diện Công ty tại TP. Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Trình bày các cơ sở lý luận liên quan đên các van đê nghiên cứu như khái quát về công tác tuyên dụng nguôn nhân lực; khái quát về công tác đào tạo nguồn nhân lực. Chương này cũng sẽ nêu và làm rõ những phương pháp nghiên cứu mà khóa luận đã sử dụng.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Chương này làm rõ các van đề đã nêu ở phần mục tiêu nghiên cứu, phân tích các số liệu nhận được bằng các phương pháp nêu ra ở phần phương pháp nghiên cứu, đưa ra kết quả và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tuyên dụng và đào tạo nguồn nhân lực tại Văn phòng đại diện Công ty Cổ phần Nafoods Group TP. Kết luận và Kiến nghị: Tổng kết lại những vấn đề đã nghiên cứu và phân tích, đưa ra các kiến nghị với Công ty và Nhà nước. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2.1 Tổng quan về nguồn nhân lực 2.1 Thực trạng nguồn nhân lực thế giới Đại dich do Corona virus hay còn gọi là Covid-19 gây ra và cướp đi hơn 6 triệu sinh mạng con người trên toàn thế giới, chính vì thế đã xuất hiện nhiều mối quan tâm về sức khỏe và cuộc sống nhân loại thời kỳ hậu Covid va đặc biệt là van dé dân số và nguồn nhân lực phục vụ phát triển sau một thời gian dai bị nó tan phá. Số liệu trên trang web Worldometers vào ngày 31/12/2022 cho thấy, đại dịch do Covid-19 đã cướp đi sinh mang của hơn 6,69 triệu người trên toàn thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của khoảng 665 triệu người nhiễm bệnh — đó là những con số kinh hoảng bởi một dịch bệnh.
Nhưng nếu xét trên bình điện biến động dân số thé giới thì sự biến động này là khá lớn đến số lượng nguồn nhân lực thế giới. Bởi lẽ trong trạng thái bình thường, mỗi năm trên toàn thế giới có 141 triệu người được sinh ra và khoảng 60 triệu người mat đi và số người chết do Covid-19 sau hơn ba năm chiếm 11,15% số người chết trong một năm. Qua những số liệu trên cho thấy, dịch bệnh tác động mạnh đến nguồn nhân lực của hau hết các quốc gia nói riêng và toàn thé giới nói chung. Sự tác động mạnh mẽ và đa chiều từ đại dịch đến nguồn nhân lực bao trùm rộng lớn lên nhiều lĩnh vực.
Dịch bệnh đã làm cho hàng tỷ người phải cách ly, huy động hàng trăm triệu người khác phải tham gia điều trị cho bệnh nhân hay tham gia phòng và chống dịch. Dịch bệnh cũng làm cho hàng trăm triệu trẻ không được đến trường, hàng ngàn ngôi trường từ mam non đến đại học phải thay đổi cách thức và phương pháp giảng dạy. Có thé nói rằng, chính đại dịch Covid-19 đã bào mòn sức lực của hàng tỷ con người trên Trái Đất và khi địch bệnh được kiểm soát, các hoạt động đều trở lại bình thường thì hệ quả của nó vẫn còn rất lớn. Đặc biệt, những chấn thương tâm lý hậu dịch bệnh là vấn đề nan giải, tiêu biêu là các bệnh chứng như trâm cảm, mệt mỏi, lo sợ.
điêu này cũng được các nhà kinh tế học đề cập và cảnh báo làm giảm thiểu chất lượng lao động hậu Covid. Thêm vào đó, với hàng trăm triệu trẻ em không được đến trường sẽ ảnh hưởng đến nền giáo dục, cũng như cho nguồn nhân lực tương lai bị tác động. Như vậy, đại dịch Covid-19 đã tác động đến nền dân số thế giới, về cả số lượng va chất lượng nguồn nhân lực. Điều đó làm cho nguồn nhân lực phục vụ phát triển hậu Covid-19 trở thành vẫn đề được nhiều người quan tâm.2 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2021, quy mô dân số trung bình cả nước đạt 98,51 triệu người.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước khoảng 50,5 triệu người (chiếm tỷ lệ gần 51,26% so với tổng dân s6). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động năm 2021 là 67,7%. Nhu vậy nếu xét về dân số, Việt Nam đứng thứ 15 trên thé giới và xét về số lượng lao động, Việt Nam đứng thứ 11 trên thé giới, đứng thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia). Nguồn nhân lực Việt Nam hiện vẫn đang đối mặt với khá nhiều thách thức: - Trình độ nguồn nhân lực còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách kinh tế nói chung và chuyền đối số nói riêng.
Mặc di tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tăng lên, nhưng tốc độ tăng rất chậm, năm 2011 tỷ lệ này là 15,4% thì đến năm 2021 tỷ lệ nay mới chỉ đạt 26,1%, với tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn từ 2011 đến 2021 chỉ tầm 5% (theo Tổng cục Thống kê). Trong khi đó, nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực thì tỷ lệ này ở Indonesia là 42% và Malaisia lên đến 66,8% (theo Báo cáo Phát triển Con người toàn cầu của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc năm 2020). - Cơ cấu lao động chưa hợp lý, về cả trình độ và phân bố theo khu vực. + Năm 2020, lao động có trình độ cao đăng và đại học trở lên chiếm quá nửa số lao động chất lượng cao (chiếm 62,08%), trong khi trình độ trung cấp nghề chỉ đạt 18,33% (theo Tổng cục Thống kê năm 2020).
Điều này dẫn đến một hiện tượng là nước ta thiếu tram trọng đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật có trình độ cao dang và trung cấp và đang thừa một lượng lớn lao động cáo trình độ từ đại học trở lên — Điều này phản ánh mức độ bắt hợp lý, gây lãng phí và gây ra thực trạng “thừa thầy thiếu thợ” trong nền kinh tế hiện nay. + Việc phân bồ nguồn lao động chất lượng cao, đã qua đào tạo còn có sự chênh lệch lớn giữa thành thị và nông thôn. Mặc dù khoảng cách này đã có giảm so với các 6 năm trước, nhưng năm 2020 tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có việc làm tại thành thị là 39,7% gap 2,43 lần so với khu vực nông thôn là 16,3%. Năm 2010, khoảng cách này là 3,6 lần.
- Da số lao động Việt Nam là lao động phố thông, lao động chưa qua dao tạo nên dẫn đến nguy cơ lớn về dư thừa lao động. Đặt ra vấn đề đào tạo lại cho các lao động dư thừa này. Thêm vào đó là những thách thức mới được tạo ra do đại dịch Covid-19 tới chính sức khỏe thé chất và tinh thần của người lao động đã làm giảm năng suất lao động, chất lượng nguồn lao động, cũng như thiếu kỹ năng mềm và thách thức về mức độ. khả năng thích ứng của người lao động với tốc độ cập nhật các phương thức, mô hình làm việc MỚI.
Nhưng với nỗ lực triển khai chương trình phục hôi và phát triển kinh tế - xã hội của các cấp, ngành và các địa phương cùng với các chính sách nới lỏng giãn cách xã hội và hoàn thành tiêm vắc xin trong những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022 đã tạo điều kiện cho thị trường lao động dần phục hồi và đạt được mức tăng trưởng khá. Số người gia nhập lực lượng lao động tiếp tục tăng, lao động có việc làm tăng mạnh, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm đều giảm (theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê quý I năm 2022). Tom tại, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp sống sót và tồn tại qua đại dịch cũng như đóng vai trò thiết yếu trong công cuộc phục hồi sản xuất kinh doanh sau đại dịch. Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế số, chuyền đổi số đang là xu hướng tất yếu của Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới thì trước hết Việt Nam phải vượt qua một số thách thức, trong đó có thách thức về nguồn nhân lực.3 Xu hướng nhân sự trong thời gian qua a) Làm việc từ xa — Remotely Working Đại dịch hoành hành trên toàn thế giới đã khiến hàng chục triệu người bị áp đặt bởi các biện pháp phong tỏa, giãn cách.
Điều này cũng có nghĩa là nhiều người phải thích nghỉ với việc làm việc tại nhà và rất nhiều người cam thay rang họ thích hình thức làm việc này. Đơn cử như Google cho 5000 nhân sự làm việc tại nhà hết tháng 7/2021 (theo báo cáo của Mesinkey năm 2021). Các nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, nhân 7 viên làm việc từ xa có năng suất lao động cao hơn nhân viên làm việc tại văn phòng và điều này cũng mang tới cơ hội cho các công ty có thê thuê được những nhân lực tài năng va da dạng hơn. Thêm vào đó, sự bùng nô của công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tao, IoT đã xóa bỏ giới hạn khoảng cách làm việc của con người giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc triển khai mô hình làm việc từ xa.
b) Văn phòng điện tử 4.0 — xu hướng chuyển đổi số văn phòng hành chính nhân sự Một trong những mong muốn hàng đầu của người lao động khi lựa chọn một công việc, đó là điều kiện môi trường làm việc. Theo khảo sát của Flexjobs cho thấy: 80% người lao động sẽ trung thành hơn với công việc khi được làm việc tại môi trường hiện đại và linh hoạt. Thêm vào đó, với sự phát triển của công nghệ hiện đại như hiện nay thì mô hình làm việc của đội ngũ nhân sự theo hướng hành chính văn phòng cũ đã không còn phù hợp và bộc lộ nhiều hạn chế gây lãng phí quỹ thời gian làm việc của doanh nghiệp, lãng phí chi phí văn phòng, chi phí gián đoạn công việc do quy trình nhân sự rườm rà. Ở thời kỳ kỷ nguyên số — nơi của những thiết bị công nghệ hiện đại, “chuyên đồi số” văn phòng nhân sự sẽ trở thành nhiệm vụ hàng đầu và xu hướng quán trị nhân sự trong tương lai của các doanh nghiệp.
c) Xu hướng tự động hóa trong quy trình nhan sự Theo dự báo nhân sự của các nhà nghiên cứu tại Stanford, lực lượng lao động 2025 sẽ biến đổi một cách đáng kể để phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ. Theo số liệu từ tạp chí SHRM: 60% nhân sự toàn cầu sẽ được chuyên địch đến một môi trường tự động hóa dé làm việc và cống hiến.