Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong đơn vị Bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Bảo hiểm xã hội huyện Tây Sơn Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Bảo hiểm xã hội huyện Tây Sơn. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Sự ra đời và phát triển * Khái niệm BHXH: Trong thực tế có rất nhiều cách hiểu khác nhau về BHXH tùy thuộc vào cách tiếp cận của người đọc.
Tuy vậy chúng ta có thể hiểu chung nhất về BHXH theo các cách sau đây: - Theo tổ chức lao động Quốc tế ILO (International Labour Organization) cũng đưa ra khái niệm về BHXH theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp là: + Theo nghĩa rộng, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện BHXH xảy ra, trợ giúp các dịch vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, nhằm ổn định đời sống cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội. + Theo nghĩa hẹp, BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình họ từ quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, khi người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc mất thu nhập từ lao động do các sự kiện BHXH xảy ra nhằm đảm bảo ổn định đời sống gia đình người lao động và đảm bảo an sinh xã hội. - Theo tập 1 từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính chung từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của nhà nước e 12 theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. - Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13 đã xác định: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu theo nghĩa chung nhất về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo hoặc thay thế một phần thu nhập do mất hoặc giảm thu nhập trong các trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí và tử tuất, trên cơ sở đóng góp từ các bên tham gia, có sự bảo trợ của nhà nước. Dưới góc độ pháp luật thì BHXH là tổng hợp các quy định về điều kiện đóng và hưởng BHXH của người tham gia theo quy định. * Sự ra đời và phát triển: Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản. Kết quả này đã được các nước trên thế giới ghi nhận và đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp.
BHXH ra đời và lan rộng rất nhanh trên thế giới như: Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ (Cộng hòa liên bang Đức), năm 1850 và năm 1861 các quỹ ốm đau được thành lập ở Đức, Bỉ và đến năm 1883, nước Đức ban hành đạo luật đầu tiên về BHXH. Hay như ở thời kỳ chiến tranh thế giới thứ II (1940-1945) các sự kiện lớn đánh dấu quá trình ra đời và phát triển BHXH đó là: Luật BHXH ở Mỹ đã được thông qua; Kế hoạch Beveridge (1942) đã được Chính phủ Bỉ thông qua để chuẩn bị thành lập hệ thống BHXH ở Bỉ. e 13 Ở Việt Nam, sự hình thành và phát triển của BHXH được chủ biên Dương Văn Thắng biên soạn đầy đủ, chi tiết trong cuốn sách “Đổi mới và phát triển BHXH ở Việt Nam” [16] được khái quát như sau: Từ những năm 1930 của thế kỷ XX, nhờ sự ra đời và lan rộng mà BHXH bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam. Các chế độ trợ cấp đầu tiên cho những người làm việc trong bộ máy cai trị của thực dân Pháp là hưu bổng, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Dưới sự đấu tranh của giai cấp công nhân, đặc biệt là từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương, người lao động trong các hầm mỏ, nhà máy của Pháp cũng được hưởng một số chế độ BHXH, mặc dù còn hết sức hạn chế. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm và thực hiện chính sách BHXH đối với người lao động thông qua một loạt các sắc lệnh. Sắc lệnh số 54-SL ngày 03/11/1945 ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí. Sắc lệnh số 105-SL ngày 14/06/1946 quy định về việc cấp hưu bổng và đóng BHXH đối với công chức.
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 ban hành Quy chế Công chức Việt Nam, trong đó quy định các nghĩa vụ, quyền lợi của công chức Việt Nam, tổ chức quản trị sử dụng, quy định về tuyển dụng, khen thưởng, thăng thưởng cũng như việc kỷ luật đối với công chức vi phạm quy chế. Chính sách BHXH ở Việt Nam trong giai đoạn đầu tuy còn hết sức sơ khai nhưng đã phản ánh được những mặt tiến bộ như thực hiện nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng chế độ BHXH; mức hưởng phù hợp với mức đóng, khả năng của Quỹ BHXH và thấp hơn mức hưởng khi đang làm việc. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã kết thúc 09 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ. Hòa bình được lập lại, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc của miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Thời gian này, mặc dù nền kinh e 14 tế đất nước còn hết sức khó khăn, cả nước tập trung sức người sức của cho cuộc kháng chiến nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định mục tiêu bảo đảm đời sống cho nhân dân lao động, thể hiện qua nhiều văn bản chính sách BHXH được ban hành như: ngày 27/12/1961, Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước. Hệ thống chế độ BHXH ở Việt Nam lúc này bao gồm: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp TNLĐ và BNN, chế độ trợ cấp hưu trí, chế độ trợ cấp mất sức lao động và chế độ trợ cấp tử tuất. Chính sách BHXH ban hành kèm theo Nghị định này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động, thu hút và động viên hàng triệu lao động tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH đã không còn phù hợp.
Vì vậy, ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/CP quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng cho các thành phần kinh tế, đánh dấu bước đổi mới quan trọng của BHXH ở Việt Nam. Theo Nghị định 43/CP, chế độ trợ cấp mất sức lao động đã bị loại bỏ và chỉ thực hiện 5 chế độ còn lại. Đặc biệt, tại Nghị định 43/CP đã dành hẳn 01 phần quy định về Quỹ BHXH và một phần khác quy định về hệ thống tổ chức BHXH. Sau 10 năm thực hiện cải cách và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế nước ta bước đầu đạt được một số kết quả.
Tuy nhiên, cũng từ thực tiễn đổi mới đặt ra vấn đề phải xây dựng một hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ, đặc biệt là yêu cầu cấp thiết phải đổi mới hệ thống chính sách xã hội. Trên cơ sở Bộ luật Lao động được thông qua tại kỳ họp thứ 05, Quốc hội khóa IX, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, e 15 Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và liên bộ ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách chế độ BHXH. Trong đó, văn bản chủ đạo về chế độ, chính sách BHXH là Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 quy định thực hiện BHXH bắt buộc đối với công chức, công nhân viên chức nhà nước và người lao động làm việc tại các doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để giúp Chính phủ chỉ đạo công tác quản lý Quỹ BHXH và thực hiện thống nhất các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật.
Năm 2006, sự phát triển của Bảo hiểm xã hội được đánh dấu bằng cột mốc quan trọng, đó là Luật BHXH được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Riêng đối với BHXH tự nguyện thực hiện từ ngày 01/01/2008 và BHTN thực hiện từ ngày 01/01/2009. Để cụ thể hóa Luật BHXH, Chính phủ ban hành Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Quyết định số 41/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/03/2007 về quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Như vậy, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có hành lang pháp lý vững chắc để tổ chức triển khai mọi hoạt động của mình.
Chính sách của nhà nước Việt Nam đối với BHXH là khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia BHXH ngày càng đông đảo. Chức năng, nhiệm vụ Theo Nghị định 01/2016/NĐ-CP, ngày 05/01/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam [07]. e 16 Bảo hiểm xã hội Việt Nam có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN; quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BHYT, BHTN; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHYT, BHTN theo quy định của pháp luật.