Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Lý thuyết về quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không tại doanh nghiệp giao nhận vận chuyển hàng hóa quốc tế Chương 3: Thực trạng và quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không tại Công ty TNHH Logistics Quốc tế ADP Loxson Việt Nam Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không 5 CHƯƠNG II: LÝ THUYẾT VỀ QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA NHẬP KHẨU BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI DOANH NGHIỆP GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 2. Khái quát về dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không 2. Khái niệm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không Là một ngành vận tải non trẻ, chỉ mới xuất hiện cuối thể kỷ 19, đầu thế kỷ 20 nhưng vận tải bằng đường hàng không ngày càng phát triển nhanh chóng, mở rộng phạm vi từ chuyên phục vụ chuyển chở hành khách sang vận chuyển hàng hóa. Và mặc dù là một phương thức vận chuyển tốn kém nhưng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa bằng đường hàng không tại Việt Nam dự kiến sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới do nhiều yếu tố khi kinh tế và thương mại thế giới bước vào giai đoạn phục hồi hậu đại dịch.
Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không ngày càng lớn và loại hình dịch vụ này cũng dần đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế. Có nhiều khái niệm khác nhau về Dịch vụ giao nhận (Freight Fowarding Service), ngày 29/10/2004, Hiệp hội FIATA đã phối hợp với Hiệp hội châu Âu về các dịch vụ giao nhận, vận tải, logistics và hải quan (CLECAT) đã đi đến thống nhất về dịch vụ giao nhận vận tải và logistics, đó là: “Giao nhận vận tải là bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến chuyên chở (được thực hiện bởi một hoặc nhiều phương tiện vận tải), gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vấn đề hải quan hay tài chính, khai báo hàng hóa cho những mục đích chính thức, mua bảo hiểm cho hàng hóa và thu tiền hay lập các chứng từu liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ giao nhận bao gồm có dịch vụ logistics cùng với công nghệ thông tin hiện đại liên quan chặt chẽ đến quá trình vận tải, xếp dỡ hoặc lưu kho bãi và quản lý chuỗi cung trên thực tế. Những dịch vụ này có thể cung cấp để đáp ứng với việc áp dụng linh hoạt các dịch vụ được cung cấp”.
Tại Việt Nam, theo Luật Thương Mại 2005 Mục 4- Điều 233 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kỷ mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” Từ định nghĩa về dịch vụ giao nhận như trên có thể hiểu: dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không là tất cả các dịch vụ liên quan đến vận chuyển hàng hóa bằng đường không, nhận hàng hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, người vận tải hoặc của người giao nhận khác. Người thực hiện dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu có thể là chủ hàng, các 6 hãng hàng không, người giao nhận chuyên nghiệp,. Hiện nay dịch vụ này thường do đại lý hàng hóa hàng không hoặc người giao nhận hàng không các fowarder, công ty cung cấp dịch vụ quốc tế thực hiện. Vai trò Dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không đem lại nhiều lợi ích và đóng vai trò như một phần quan trọng hỗ trợ cho sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, cụ thể: - Người nhập khẩu sẽ giảm bớt nhân sự trong công ty phụ trách mảng công việc giao nhận vận chuyển, từ đó giúp giảm chi phí quản lý, chi phí nhân công,.
cho doanh nghiệp. - Nhờ có sự chuyên môn hóa của các bên cung cấp dịch vụ giao nhận hàng hóa, người nhập khẩu sẽ hạn chế rủi ro trong việc hoàn thiện các thủ tục hải quan nhằm thông quan hàng hóa. Nếu không nắm vững các quy định, thủ tục cần thiết để nhận hàng từ kho, hãng tàu, hàng hàng không,. sẽ dẫn đến phát sinh các chi phí không cần thiết và khó kiếu nại, không lấy được hàng hóa.
- Tạo điều kiện cho hàng hóa được nhập khẩu nhanh chóng, đảm bảo an toàn và tiết kiệm mà không cần có sự hiện diện của người nhập khẩu trong quá trình giao nhận. Từ đó giảm bớt các chi phí không cần thiết cho doanh nghiệp như phí lưu kho, thuê phương tiện vận chuyển,. và nhanh chóng đưa hàng hóa vào lưu thông trên thị trường, phục vụ việc sản xuất,. - Thay mặt người nhập khẩu để bảo vệ quyền lợi của họ bằng cách lập các chứng từ để khiếu nại hãng hàng không, hãng tàu, cảng, kho nếu có tổn thất, hư hỏng đối với hàng hóa nhập khẩu.
Ngoài ra, đối với người chuyên chở dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu còn giúp đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải, tận dụng một cách tối đa cũng như có hiệu quả tải trọng và dung tích của các phương tiện hay công cụ vận tải và các phương tiện hỗ trợ giao nhận khác. Đặc điểm của dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không Dịch vụ giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không có nhiều ưu thế vượt trội hơn so với các dịch vụ vận chuyển khác, nhưng cũng có những hạn chế nhất định. Dựa vào những ưu điểm – hạn chế của loại hình dịch vụ này, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, người giao nhận có thể xem xét mức độ phù hợp với nhu cầu và đặc điểm hàng hóa của mình. Ưu điểm: Thứ nhất, tốc độ nhanh, phù hợp với các mặt hàng cần thời gian vận chuyển ngắn: sự vượt trội về thời gian vận chuyển là điểm mạnh của hình thức vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không, tốc độ di chuyển của máy bay 7 dân dụng hiện nay gấp 27 lần do với tàu biển, gấp 10 lần so với ô tô và 8 lần so với tàu hỏa, điều này đảm bảo hàng hóa được vận chuyển tới nước nhập khẩu nhanh nhất có thể.
Vì vậy, dịch vụ giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không luôn đảm bảo về mặt thời gian, thời gian từ lúc gửi hàng tới lúc nhận hàng ngắn hơn nhiều so với sử dụng dịch vụ vận chuyển khác. Thứ hai, có tính an toàn và hành trình đều đặn: so với các dịch vụ vận chuyển khác thì dịch vụ vận chuyển hàng không ít tổn thất nhất, do thời gian vận chuyển ngắn, trang thiết bị phục vụ vận chuyển hiện đại nhất. Bỏ qua các ảnh hưởng về thời tiết, các chuyến bay đều có hành trình ổn định, thời gian dự kiến sát với thời gian đến thực tế. Cũng chính nhờ tính an toàn của phương tiện vận chuyển nên phí bảo hiểm của dịch vụ này cũng thấp hơn, giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp nhập khẩu.
Thứ ba, dịch vụ vận chuyển cho phép vận chuyển lượng lớn hàng hóa: hiện nay nhiều hãng hàng không đã cung cấp dịch vụ vận chuyển chuyên hàng hóa, có sức chứa hàng hóa mặc dù không lớn như đường biển nhưng cũng cho phép doanh nghiệp vận chuyển đơn hàng lớn trong một lần vận chuyển. Nhược điểm: - Yêu cầu tốc độ xử lý lô hàng nhanh: các lô hàng nhập khẩu bằng đường hàng không có thời gian lưu kho miễn phí là 3 ngày, đối với các lô hàng giá trị cao thời gian lưu kho sẽ ít hơn. Chính vì vậy, để tiết kiệm chi phí lưu kho quá trình thao tác từ khâu làm thủ tục thông quan tới lúc lấy hàng giao về kho là rất ngắn, yêu cầu các bên cung cấp dịch vụ phải sắp xếp kế hoạch hợp lý, tốc độ xử lý lô hàng ngắn. - Chất lượng dịch vụ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: thường các lô hàng nhập bằng đường hàng không thường được ưu tiên xử lý trước do lịch bay ít có sự thay đổi nhưng tốc độ lấy hàng ở các kho trên cảng hàng không lại là yếu tố không cố định.
Vào những ngày đầu tuần hoặc cuối tuần kho rất đông, thời gian lấy hàng phải chờ đợi lâu, hoặc do hệ thống lỗi để lấy hàng cần xin chữ ký của quán lý kho dẫn đến thời gian lấy hàng bị kéo và không đảm bảo tiến độ giao hàng. Các chủ thể tham giá hoạt động giao nhận hàng hóa nhập khẩu bằng đường hàng không Tham gia vào quá trình vận chuyển hàng hóa có nhiều chủ thể khác nhau, trong giáo trình Quản trị giao nhận vận chuyển hàng hóa quốc tế Trường Đại học Thương mại xuất bản năm 2017 đã đề cập đến mối liên hệ giữa các chủ thể trong quá trình vận chuyển trích từ Bowersox et al. (2010) có sáu chủ thể chính tham gia vào quá trình vận chuyển quốc tế như sau: 8 Sơ đồ 2. 1: Mối liên hệ giữa các chủ thể trong quá trình vận chuyển Nguồn: Giáo trình Quản trị giao nhận vận chuyển hàng hóa quốc tế (2017, p.17) Người gửi hàng (Shipper, còn gọi là chủ hàng): là người yêu cầu vận chuyển hàng hóa đến địa điểm nhất định trong khoảng thời gian cho phép.
Người nhận hàng (Consignee, còn gọi là khách hàng): là người yêu cầu nhận được hàng hóa đúng địa điểm, thời gian, số lượng, chất lượng và cơ cấu với mức giá thỏa thuận theo đơn đặt hàng đã thông báo với người gửi hàng. Người nhận hàng quan tâm tới chất lượng dịch vụ trong mối tương quan với giá cả. Người vận chuyển (Carrier): là người cung cấp dịch vụ vận chuyển và hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận (thu cước phí vận chuyển từ khách hàng ở mức cao nhất có thể). Đồng thời, người vận chuyển cũng cố gắng tối thiểu hóa chi phí lao động, nhiên liệu và phương tiện vận tải.