Chương 1: Tổng quan của đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về dịch vụ logistics Chương 3: Thực trạng dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc của công ty TNHH Đầu Tư TM&XNK Hoa Nam Logistics. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện dịch vụ logistics cho hàng hóa nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc của Công Ty TNHH Đầu Tư TM&XNK Hoa Nam Logistics. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS 2.1 Khái quát về dịch vụ logistics 2.1 Một số khái niệm cơ bản a. Khái niệm logistic Thuật ngữ "logistics" có nguồn gốc từ Hy Lạp - Logikos, lần đầu tiên được sử dụng không phải trong lĩnh vực thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự.
Qua các giai đoạn lịch sử và với sự phát triển nhanh chóng của hậu cần trong nhiều lĩnh vực và quốc gia trên khắp thế giới, logistics đã trở thành một ngành dịch vụ không thể thiếu trong hoạt động thương mại quốc tế. Trong môi trường kinh doanh, Thuật ngữ “logistics” thường được hiểu là quá trình quản lý chuỗi cung ứng hoặc quản lý hệ thống phân phối vật chất của doanh nghiệp. Hiện nay, có nhiều quan điểm về logistics như sau: Theo Hội đồng Logistics Hoa Kỳ: “Logistics là một phần không thể thiếu của chuỗi cung ứng. Nó bao gồm việc đáp ứng, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng chảy và trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan một cách hiệu quả và linh hoạt từ một điểm đến khác để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.
Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2006): “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua một loạt các hoạt động kinh tế”. Theo Nguyễn Như Tiến (2016): “Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa và nguyên vật liệu từ quá trình mua hàng, qua các hoạt động lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi đến tay người tiêu dùng”. Từ các định nghĩa trên, mặc dù có sự đa dạng về từ ngữ và cách trình bày nhưng trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, thì logistics được hiểu là quản lý dòng chuyển động của nguyên vật liệu từ quá trình mua sắm đến lưu trữ, sản xuất và phân phối cho người tiêu dùng. Mục tiêu là giảm thiểu chi phí và thời gian phát sinh trong quá trình di chuyển của nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất và phân phối hàng hóa một cách hiệu quả và kịp thời.
Tuy nhiên, không chỉ giới hạn ở "nguyên vật liệu, hàng hoá", mà cần bao gồm cả "dịch vụ, thông tin" trong quá trình lưu chuyển. Logistics 6 không chỉ áp dụng trong lĩnh vực sản xuất mà còn liên quan đến mọi tổ chức, bao gồm chính phủ, bệnh viện, ngân hàng, cũng như các doanh nghiệp bán lẻ và bán buôn. Khái niệm dịch vụ logistics Nếu xem xét hoạt động logistics như một phần của chức năng hỗ trợ trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thì dịch vụ logistics có thể hiểu là một sản phẩm dịch vụ mà các doanh nghiệp logistics cung cấp và bán cho khách hàng, thu phí từ việc cung cấp các dịch vụ logistics. Trong trường hợp này, khách hàng thường là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoặc các cá nhân có nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics.
Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam, "Dịch vụ logistics là một hoạt động thương mại, trong đó các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn, bao gồm nhận tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, vận chuyển hàng hóa hoặc các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa theo thoả thuận với khách hàng để nhận được thù lao" (mục 4, điều 233, Luật Thương mại 2005). Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The us. Logistics Administration Council) quan niệm: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”. Khái niệm Doanh nghiệp logistics Căn cứ vào các quy định của Luật Thương mại 2005 và một số điều khoản của Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/05/2007 về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân kinh doanh các loại dịch vụ logistics, tác giả xin được rút ra khái niệm về doanh nghiệp logistics như sau: Các doanh nghiệp logistics (LP’s - Logistics Providers) là các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp và đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.
Chúng là những tổ chức có khả năng cung cấp các dịch vụ logistics độc lập hoặc tích hợp các dịch vụ độc lập thành các gói dịch vụ logistics 7 khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và thương mại trong nước và quốc tế. Khái niệm về cung cấp dịch vụ Năng lực là tập hợp các khả năng, nguồn lực của một con người hay một tổ chức nhằm thực thi một công việc nào đó. Bởi vậy, về thực chất, năng lực của một con người là tập hợp những gì mà con người đó hiện có. Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam (2005), “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, trong đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện dịch vụ cho bên khách hàng và nhận thanh toán; bên khách hàng thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận” (Điều 3, khoản 9).
“Năng lực cung ứng của doanh nghiệp là mức độ sử dụng các nguồn lực để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Điều này đồng nghĩa với việc tổ chức có khả năng và điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên để thực hiện các hoạt động chủ yếu. Năng lực còn bao gồm thuộc tính, khả năng, quy trình tổ chức, kiến thức và kỹ năng cho phép một công ty đạt được hiệu suất cao và duy trì lợi thế cạnh tranh so với đối thủ” (Morash et al. Trong hoạt động kinh doanh, cung ứng là việc cung cấp những thứ cần thiết để đáp ứng nhu cầu, thường là của hành khách hoặc của sản xuất.
Cung ứng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo yếu tố đầu vào cho hoạt động kinh doanh và thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Để làm điều này, cần phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm đặc biệt hoặc dịch vụ tùy chỉnh, nhằm tạo ra giá trị gia tăng và tối đa hóa sự hài lòng của khách hàng, đồng thời liên tục cải tiến. Dựa trên các quan điểm trên, trong phạm vi của đề tài khóa luận, năng lực cung ứng dịch vụ giao nhận là khả năng cung cấp các dịch vụ giao nhận như giao nhận đường biển, giao nhận đường hàng không, dịch vụ logistics, giao nhận nội địa, đại lý tàu biển, tổng đại lý bản cước, đại lý bản vẻ máy bay. để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng.
Đây là sự tích hợp khả năng và nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp về dịch vụ giao nhận nhằm mang lại cho khách hàng sự cần thiết và đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Năng lực cung ứng dịch vụ giao nhận thể hiện thực lực và lợi thế 8 của công ty giao nhận khi tham gia tổ chức việc vận chuyển hàng hóa từ nơi giao hàng đến nơi nhận hàng.2 Vai trò của dịch vụ logistics a. Với nền kinh tế + Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu: Nếu như không có sự ra đời của các công ty logistics thì các khâu trong chuỗi logistics như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế khó có thể liên kết và phối hợp nhịp nhàng, trơn tru với nhau. Thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển là việc rất quan trọng.
Các công ty cung cấp dịch vụ logistics là những cánh tay nối dài giúp cho những doanh nghiệp này gia nhập tốt hơn vào thị trường thương mại quốc tế. + Giảm chi phí logistics: Sự xuất hiện của các doanh nghiệp logistics đã tạo nên được sự chuyên môn hóa cho hoạt động chuyên môn của mình một cách hiệu quả nhất. Điều này dẫn tới sự thống nhất hoạt động của chuỗi cung ứng, từ đó giảm được sự ách tắc, chồng chéo trong chuỗi. Điều đó giúp giảm được các chi phí phân phối, vận động vật chất trong chuỗi.
+ Cải thiện năng suất logistics, đóng góp lớn vào GDP: Đây là một thành tố quan trọng đóng góp vào GDP. Các doanh nghiệp logistics khi hoạt động hiệu quả sẽ nâng cao năng suất lao động của một quốc gia thông qua tăng năng suất lao động của từng doanh nghiệp khách hàng mà họ cung ứng dịch vụ, có động thái tích cực đến giá cả trả cho hàng hóa và dịch vụ, đến cân bằng cán cân thanh toán của quốc gia, giá trị đồng tiền và khả năng cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường toàn cầu, lợi nhuận của ngành Công nghiệp (năng suất lao động cao, có nghĩa là chi phí thấp cho hoạt động sản xuất và phân phối số sản phẩm tương đương số đã sản xuất ra). + Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế: Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa 9 chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.
Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Với khách hàng sử dụng dịch vụ + Thúc đẩy tính liên kết, phối hợp trong các chuỗi cung ứng quốc tế.