chương 1. Theo khoản mục Điều khiển Bên trong trình 2. Theo công việc Quản lý Đầu ra/đầu vào Bên trong thực hiện Đầu vào/chương Bên trong/ 3. Theo chương trình Lập kế hoạch trình/đầu ra bên ngoài Đầu ra, công việc 4.
Theo kết quả đầu thực hiện, minh Bên ngoài/ Kết quả/ đầu vào ra bạch và được thông bên trong tin rộng rãi “Nguồn: Khan và W. Hildreth (2002)” Phương pháp quy trình ngân sách theo hệ thống khoản mục: các khoản thu, chi ngân sách được khoản mục hóa, được chi tiết và phân định rõ số tiền cho mỗi cơ quan được hưởng là bao nhiêu, hoặc đối với mỗi tiểu mục cũng được xác định rõ là tiểu mục đó được chi là bao nhiêu. Việc quy định cụ thể mức chi yêu cầu đơn vị thụ hưởng ngân sách chi theo đúng khoản mục quy định và có giải trình với những yếu 6 tố đầu vào. Tuy nhiên, hạn chế nhấn mạnh nhiều đến khoản chi có tính chất tuân thủ mà Chính phủ đưa ra; chưa trả lời được câu hỏi tại sao có những khoản chi đó; ngân sách được lập trong thời gian ngắn hạn là một năm; chưa có chế độ phân bổ nguồn lực hiệu quả, cứng nhắc trong phân bổ ngân sách cho các đơn vị thụ hưởng.
Phương pháp quy trình ngân sách theo hệ thống công việc thực hiện: là việc phân bổ nguồn lực theo khối lượng công việc hoạt động của mỗi cơ quan trên cơ sở gắn kết công việc thực hiện với chi phí đầu vào. Lúc này thì việc lập ngân sách theo công việc thực hiện dựa vào khối lượng công việc được tiên đoán trước bằng cách nhân chi phí đơn vị với khối lượng công việc được yêu cầu trong năm tiếp theo. Nhưng mặt khác, không chú trọng đúng mức đến tác động dài hạn của chính sách. Phương pháp quy trình ngân sách theo hệ thống chương trình: tập trung vào sự lựa chọn của ngân sách trong số các chính sách, chương trình có tính cạnh tranh.
Khi lập ngân sách theo chương trình thiết lập hệ thống phân phối nguồn lực, gắn kết được các kết quả của các chương trình với chi phí cần bỏ ra để thực hiện chương trình đó. Trong phương pháp này, ngân sách được phân loại theo các khoản mục chương trình hơn là theo những mối quan hệ có tính tổ chức, đòi hỏi các mục tiêu chương trình phải dài hơn một năm ngân sách. Do đó yêu cầu sự cần thiết phải đo lường tính hiệu lực, tác động của những yếu tố đầu ra tới mục tiêu. Tuy nhiên khái niệm chương trình là khái niệm không hoàn hảo đối với ngân sách vì không thể tạo ra chương trình cho tất cả các cơ quan, tổ chức để thực hiện.
Mặt khác khi lập ngân sách không đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa phân phối ngành và những mục tiêu mang tính chiến lược cần phải ưu tiên. Phương pháp quy trình ngân sách theo hệ thống kết quả đầu ra: là hoạt động quy trình ngân sách dựa trên cơ sở tiếp cận các thông tin đầu ra giúp cho Chính phủ thực hiện phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả. Quy trình lập ngân sách kết nối các kế hoạch phân bổ ngân sách với các kết quả đầu ra cụ thể ở mức độ chi tiết nhất định, tùy thuộc vào năng lực quy trình và lĩnh vực chuyên ngành. Thể hiện một bước tiến trong công tác xây dựng kế hoạch đầu tư, gắn các mục tiêu đầu tư với nguồn lực sẵn có, phản ánh cái nhìn tổng thể về dự định đầu tư công trong trung hạn của các cấp.
Việc xây dựng chương trình đầu tư công đã góp phần thiết lập chương 7 trình chi tiêu công toàn diện, định hướng vào kết quả. Điều này góp phần tăng hiệu quả chi tiêu công trong đầu tư XDCB, hạn chế thất thoát, tăng chất lượng công trình do tăng trách nhiệm giải trình của các cơ quan phụ trách lĩnh vực này. Với lý thuyết ngân sách về kết quả ngân sách và thực nghiệm ở tiểu bang tại Mỹ cho một cách suy nghĩ mới về ngân sách công. Kết quả ngân sách tồn tại và được thừa nhận như là một khu vực hợp pháp.
Kết quả dự toán ngân sách hoạt động dưới tên giả định khác nhau, các tài liệu dự toán NSNN cần rõ ràng kết quả ngân sách từ hoạt động ngân sách. Kết quả dự toán ngân sách ảnh hưởng đến các quyết định phân bổ nguồn lực giữa các cơ quan cạnh tranh, các ban ngành và các chương trình. Cuối cùng nghiên cứu muốn nhấn mạnh, đến mức độ mà các kết quả và chi phí nhân viên hứa cho việc xác định như thế nào X đôla sẽ được phân bổ giữa hoạt động A thay vì hoạt động B, kết quả ngân sách thực sự làm đại diện cho một thắng lợi của lý thuyết hơn quy trình. Martin (1996) đã so sánh và chỉ ra tiến triển từ phương thức quy trình ngân sách theo hệ thống khoản mục, theo công việc thực hiện, theo chương trình và theo kết quả đầu ra.
Tuy mỗi phương pháp quy trình ngân sách có ưu và nhược điểm riêng nhưng nó có xu hướng là ngày càng được hoàn thiện theo thời gian qua quá trình quy trình thực tiễn ở các nước. Nghiên cứu cũng có đề cập đề đến một vài trường hợp ngoại lệ đáng chú ý là ít nhận được sự chú ý. Nên đây không phải là sự thống nhất chung theo định nghĩa tồn tại của đầu ra ngân sách. Allen và Tommasi (2001) nghiên cứu quy trình chi tiêu công.
Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu tất cả các khía cạnh của quy trình chi tiêu công từ việc chuẩn bị ngân sách để thực hiện, kiểm soát và kiểm toán giai đoạn, đáp ứng nhu cầu của các quốc gia trong quá trình chuyển đổi phát triển và các nước phát triển ở các nơi trên thế giới. Nghiên cứu thực hiện vào năm 1998 ở những nước Đông Nam Á, Trung và Đông Âu của Liên Xô, các nước chuyển đổi và muốn trở thành thành viên của liên minh châu Âu. Nghiên cứu định nghĩa chi tiêu công là một phần của chi ngân sách quốc gia là công cụ chính các giao dịch được lên kế hoạch và thực hiện chi ngân sách công. Quản lý chi tiêu công là công cụ tự nhiên, chìa khóa của chính quyền về chính sách.
8 Mục tiêu chi tiêu công gồm 3 mục tiêu cơ bản: (1) để duy trì kỷ luật tài chính. (2) phân bổ nguồn lực phù hợp với ưu tiên của chính quyền. (3) để thúc đẩy việc cung cấp hiệu quả dịch vụ. Nguyên tắc chi tiêu công: chi tiêu đúng đối tượng, đúng quy trình, đúng kế hoạch.
Ngoài ra, minh bạch và trách nhiệm là cần thiết được thực hiện bởi các chính trị gia và công chức. Nghiên cứu 4 phần gồm: (1) ngân sách và bối cảnh thể chế; (2)chương trình khuyến mãi với các vấn đề liên quan đến việc phân bổ các nguồn lực, xây dựng chính sách và lập ngân sách; (3) thực hiện và quản lý ngân sách, kiểm soát nội bộ, kiểm toán; (4) kế toán, báo cáo tài chính, hệ thống thông tin, kiểm toán, thực hiện đo lường và đánh giá. Rajaram, Tuan Minh Le, Biletska và Brumby (2010) đã nghiên cứu một cái khung chuẩn cho đánh giá quy trình đầu tư công. Các tác giả nghiên cứu và đưa ra tám đặc trưng để giúp cho hệ thống đầu tư công tốt: (1) Hướng dẫn đầu tư; phát triển dự án và chuẩn bị dự án; (2) Thẩm định dự án; (3) Tổng quan một cách độc lập thẩm định dự án; (4) Lựa chọn dự án và ngân sách; (5) Thực hiện dự án; (6) Điều chỉnh dự án; (7) Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của dự án; (8) Đánh giá dự án.
Bài báo không có mục đích là đưa ra phương pháp quản lý tốt nhất cho quản lý đầu tư công, nhưng nghiên cứu đã chỉ ra những rủi ro chính và cung cấp một quy trình có hệ thống cho quy trình chi ngân sách trong lĩnh vực XDCB. Đồng thời các tác giả nghiên cứu cũng phát triển một khung chuẩn để đánh giá từng giai đoạn trong quy trình đầu tư công. Mục đích cuối cùng của bài báo là thúc đẩy việc tự đánh giá quản lý đầu tư công của Chính phủ, các cơ quan sử dụng ngân sách tìm ra điểm yếu từ đó cải cách những thiếu xót trong quy trình và phương pháp có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chi đầu tư công, hướng tới hoàn thiện quản lý chi đầu tư từ NSNN. Nghiên cứu trong nước Phạm Quang Huy (2012, 2013), nghiên cứu lý thuyết quy trình tài chính khu vực công, kế toán khu vực công và quy trình quy trình tài chính công hiện đại.
Các nghiên cứu làm rõ các khái niệm: 9 Khu vực công là một tập hợp gồm có các cơ quan quản lý nhà nước trong một quốc gia, các tổ chức và các doanh nghiệp công và cả hệ thống ngân hàng trung ương. NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản để hình thành, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là nguồn lực để nuôi sống và duy trì bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Quy trình tài chính công là một hệ thống liên hệ đến khía cạnh tài chính của việc sử dụng các dịch vụ, hàng hóa công mà những điều này được định hướng trước và kiểm soát theo các mục tiêu của khu vực công. Nghiên cứu quy trình tài chính công theo quy trình khép kín.
Quy trình kết hợp giữa các đối tượng khác nhau với hoạt động trong một năm ngân sách. Quy trình tài chính công Thực hiện dự toán Xem xét và phát triển các chính sách Lập Quản lý 0 dự toán phê duyệt ngân sách 1 8 2 Kiểm 2 Cam kết 3 toán và việc sử đánh giá dụng quỹ Hệ thống Quy trình Quy trình mua sắm tài chính công Xem xét và Quản lý 4 lập dự toán các khoản 7 ngân sách thu và chi Quy trình bằng hệ Quản lý tài sản thống thông tin Quản lý Quy trình nợ và các dòng tiền Quy trình nhân khoản nợ sự 6 5 10 Quy trình được thực hiện bằng 2 nhóm hệ thống khác nhau: đó là hệ thống cốt lõi và hệ thống bổ trợ. Hệ thống cốt lõi gồm các nội dung: thực hiện và giám sát ngân sách; hạch toán kế toán; quy trình dòng tiền; lập báo cáo tài chính; sự cam kết trong quỹ; quy trình tài sản và hàng tồn kho. Đối với hệ thống bổ trợ gồm: dự đoán kinh tế vĩ mô; lập và phê duyệt ngân sách; quy trình viện trợ và nợ công; quy trình nhân sự; hỗ trợ kiểm soát tài chính và kiểm toán; thông tin ngân sách trên mạng.