Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LY LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THUC TIEN VE QUAN LÝ THUÊ DOI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THẺ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Qua nghiên cứu, tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bồ trong lĩnh vực thuế có thể nêu một số công trình điển hình sau: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay” (2003) là một đề tài cấp Bộ có chất lượng của tập thé tac giả, gồm PGS.TS Nguyễn Thị Bat là chủ nhiệm dé tài và các cộng sự. Dé tài đã hệ thống hóa những lý thuyết cơ bản về quản lý thuế và phân tích thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam. Đồng thời, đề tài đưa ra các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với tình thực tiễn của Việt Nam.
Tuy nhiên, nghiên cứu của đề tai mới chỉ dừng lại ở mốc thời gian 2003. “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam” của tac giả Nguyễn Thị Mai Hương (2003) là một đề tài cấp Viện Khoa học Tài chính. Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã khai quát thực trạng công tác quản lý thuế ở Việt Nam và đánh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế trên 2 góc độ: thực trạng công tác tổ chức bộ máy quản lý thu thuế và thực trạng công tác hành thu. Từ phân tích kinh nghiệm quản lý thu thuế của một số nước trên thế giới và thực trạng của Việt Nam, đề tài rút ra một số bài học kinh nghiệm và nêu ra các giải pháp khá phù hợp với Việt Nam.
Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập đến được một số vấn đề lý thuyết cơ bản như khái niệm quản lý thuế, nội dung và các phương thức quản lý thuế. Một số nhận xét về cải cách quan lý hành chính thuế ở một số nước trên thé giới được tác giả nêu ra là phong phú nhưng các bài học cho Việt Nam chưa rõ. Các giải pháp chưa có tính đột phá dé cải thiện về cơ bản công tác quan lý thuế ở Việt Nam hiện nay. “Đổi mới quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế ở Việt Nam” là luận án tiến sĩ của tác giả Lê Duy Thành, bảo vệ năm 2006.
Bên cạnh nhiều điểm thành công, luận án còn có những hạn chế như: Chưa phân tích và làm rõ được những tác động của gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc đối với quản lý thuế (vì luận án hoàn thành trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO); Các phân tích hoàn toàn mang tính định tính, chưa có công cụ phân tích định lượng hỗ trợ nên kết quả phân tích chưa mang tính khách quan; và chưa đề cập được kinh nghiệm quản lý thuế hiện đại ở các nước tiên tiến trên thé giới. Ngoài ba công trình khoa học lớn trên còn một số công trình khoa học khác đề cập đến quản lý thu thuế nói chung có đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong qua trình doi moi”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế Hoàng Đình Cơ. - Nhóm quản lý thu thuế đối với một hoặc một vài sắc thuế trên địa bàn tỉnh, thành phố như: Đề tài “Những giải pháp nâng cáo hiệu quả quan lý thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế của Mai Đình Tú; đề tài “Công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh trên dia bàn Thành pho Hà Nội”, Luận văn Thạc sỹ của Vũ Thị Toản; đề tài “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Nguyễn Danh Hưng. - Nhóm chống thất thu thuế như: đề tài “Một số vấn dé sử dụng công cụ thuế và chống thất thu thuế ở các địa bàn tỉnh biên giới phía Bắc ”, Luận văn Thạc sỹ của Đặng Hồng Trung; đề tài “That thu thuế và giải pháp chong thất thu thuế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, Luận văn Thạc sỹ kinh té của Nguyễn Duy Long; đề tài “Chống thất thu thuế trên địa bàn quận Đống Đa”, Luận văn Thạc Sỹ của Nguyễn Viết Tuấn; đề tài “Chống gian lận thuế giá trị gia tăng trên dia bàn thành pho Hà Nội ”, Luận văn Thạc sỹ của Viên Viết Hùng.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, trên nhiều khía cạnh khác nhau đã đề cập đến quản lý thuế. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về Hoàn thiện công tác Quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, đền tài vẫn mang tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Thuế và quản lý thuế 1.
Quan niệm và vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Quan niệm về thuế Thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước. Khi Nhà nước ra đời, thuế là công cụ dé Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Nhà nước dùng quyén lực của mình ban hành các luật thuế dé bắt buộc dân cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước.
Thuế là khoản đóng góp theo luật định của người nộp thuế cho Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cau chỉ tiêu của Nhà nước. Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật định. Đặc điểm này được thé chế hóa trong hiến pháp của mỗi quốc gia. Nhà nước dùng quyền lực va sức mạnh dé ấn định các thứ thuế, bắt buộc các tô chức kinh tế và công dân thực hiện các nghĩa vụ thuế để nhà nước có nguồn thu ôn định, thường xuyên đảm bảo trang trải các khoản chi trong hoạt động thường xuyên của Nhà nước mà vẫn 6n định được Ngân sách Nhà nước.
Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế của mình tức là họ đã vi phạm pháp luật của quốc gia đó. Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa các khoản thuế với các khoản đóng góp mang tính tự nguyện cho Ngân sách Nhà nước và thuế đối với các khoản vay mượn của Chính phủ. Thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế vận động một chiều, trên cơ sở các số thuế thu được Nhà nước sẽ sử dụng cho những chi tiêu công cộng, phục vụ cho nhu cầu của Nhà nước va mọi cá nhân trong xã hội.
Số thuế mà các đối tượng phải nộp cho Nhà nước được tính toán không dựa trên khối lượng lợi ích công cộng họ nhận được mà dựa trên những hoạt động cụ thể và thu nhập của họ. Đặc điểm này cũng phân biệt giữa thuế với phí và lệ phí. Vai trò của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội Thứ nhất, thuế là nguôn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa vào chủ yếu nguồn thu nội bộ từ nền kinh tế quốc dân. Một ngân sách lành mạnh trước hết phải dựa vào nguồn thu trong nước, mà trong đó thuế là nguồn thu chủ yếu (từ 80 đến 90%).
Nguồn thu của thuế lấy từ thu nhập quốc dân sản xuất, khả năng động viên của thuế phụ thuộc cơ bản vào sự phát triển và hiệu quả sản xuất, trình độ và ý thức tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của doanh nghiệp và người dân. Vì vậy, chính sách động viên về thuế phải được đặt trong mối quan hệ chung theo hướng xóa bỏ các khoản chi bao cấp, không tận thu để đảm bảo chi, phải thu đúng thu đủ nhằm bồi dưỡng phát triển nguồn thu lâu dài trên nguyên tắc phân phối hợp lý thu nhập quốc dân giữa nhà nước và xã hội. Muốn vậy hệ thống thuế và chính sách thuế mới phải được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế, phải bao quát được hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập của doanh nghiệp va xã hội dé đảm bảo yêu cầu vốn, thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao hơn. Thứ hai, thuê là công cụ quan lý và diéu tiét vĩ mô của nên kinh tê 7 Thuế không chỉ chiếm tỷ trọng lớn trong tông thu Ngân sách Nhà nước hàng năm mà còn là công cụ của Nhà nước dé quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Thông qua thuế, Nha nước có thé chi phối đến việc lựa chọn va sản xuất “cái gì”, sản xuất “như thế nào”, “sản xuất cho ai”. Hay dựa vào công cụ thuế, Nhà nước có thể thúc đây hoặc hạn chế việc tích lũy, đầu tư và tiêu dùng. Từ chính sách thuế phân biệt theo thuế suất cao, thấp khác nhau đối với từng ngành nghề kinh doanh, đối với từng sản phẩm dịch vụ, tùy thuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời song xã hội, tự nó đã có tac dung điều chỉnh việc phân bổ nguồn vốn trong xã hội. Việc áp dụng các hình thức ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn giảm thuế.) đối với hàng hóa dịch vụ sẽ làm cho giá cả hàng hóa đó giảm xuống.
Khi giá cả hàng hóa, dịch vụ giảm thì lượng cầu sẽ tăng lên. Dé đáp ứng cho sự gia tăng về cầu hàng hóa các doanh nghiệp sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn. Ngược lại, khi áp dụng thuế suất cao, giá tăng sẽ có sự giảm sút về cầu, thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới phù hợp dé có thé tạo ra nhiều lợi nhuận. Thứ ba, thuế góp phan tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đăng khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế Việc áp dụng chính sách thuế thống nhất đối với mọi thành phan kinh tế trong phạm vi cả nước đã góp phần tạo nên sân chơi bình đăng, thúc đây cạnh tranh và khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước.
Trong quá trình triển khai thực hiện, chính sách thuế luôn được điều chỉnh linh hoạt, kịp, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và hội nhập kinh té quéc tế, Thứ tw, thuế góp phan thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cầu kinh tế Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn giảm, các chê độ quản lý thu thuê khác nhau có vai trò quan trọng đên việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng, khuyến khích phát triển hay hạn chế. Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường. Đó là việc đánh thuế cao hay thấp và các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập.