mở đầu quan trọng mang ý nghĩa quyết định đến toàn bộ quá trình quản lý tài chính trong tổ chức. Nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đó là: Thứ nhất, thông qua việc lập dự toán để đánh giá khả năng và nhu cầu về tài chính của Kho bạc, từ đó phát huy tính hiệu quả đồng thời hạn chế những trở ngại trong quá trình sử dụng tài chính của Kho bạc. Thư hai, theo nguyên tắc quản lý tài chính, chi phải dựa trên thu mà thu và chi của KBNN không phải là đồng nhất với nhau về mặt thời gian, có những lúc có nhu cầu chi nhưng chưa có thu và ngược lại. Do đó, cần có kế hoạch thu và chi để các nhà quản lý có thể chủ động điều hành đơn vị.
Thứ ba, dự toán là cơ sở để tổ chức thực hiện. Lập dự toán là hoạt động tiền khả thi của quá trình thực hiện dự toán. Do đó, lập dự toán có vai trò quan trọng trong hoạt động tổ chức của một đơn vị, nó dẫn dắt quá trình thực hiện dự toán của đơn vị sau này. Việc lập dự toán cũng là tiêu chí để đánh giá hiệu quả việc thực hiện dự toán của KBNN.
Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của KBNN, các đơn vị dự toán thuộc KBNN có trách nhiệm lập dự toán thu, chi NSNN theo quy định hiện hành gửi KBNN (Vụ Tài vụ Quản trị) để tổng hợp vào dự toán thu, chi của hệ thống KBNN gửi Bộ Tài chính (đơn vị dự toán cấp I) Dự toán thu, chi NSNN của KBNN phải đảm bảo: - Đầy đủ các nguồn kinh phí theo quy định - Dự toán chi được xác định cụ thể - Phải được cấp trên phê duyệt - Thực hiện đúng thời gian, biểu mẫu theo quy định của cấp trên. Phân bổ và giao dự toán thu, chi NSNN hàng năm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 - Kho bạc Nhà nước: Căn cứ vào dự toán được Bộ trưởng Bộ Tài chính giao, kinh phí của năm trước chưa triển khai thực hiện được chuyển sang năm sau (nếu có) và nhiệm vụ chuyên môn được giao, Tổng Giám đốc KBNN thực hiện phân bổ dự toán cho các đơn vị thuộc KBNN, đồng gửi Bộ Tài chính (Đơn vị dự toán cấp I) để báo cáo. - Kho bạc Nhà nước tỉnh: Căn cứ vào dự toán được Tổng Giám đốc KBNN giao, kinh phí của năm trước chưa triển khai thực hiện được chuyển sang năm sau (nếu có) và nhiệm vụ chuyên môn được giao, Giám đốc KBNN tỉnh thực hiện phân bổ cho các đơn vị trực thuộc. Công tác kế toán, quyết toán kinh phí và các Quỹ: Các đơn vị thuộc hệ thống KBNN có trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định của Luật NSNN, Mục lục NSNN, Chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp kèm theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Nhà nước, Bộ Tài chính và KBNN.
Yêu cầu đối với báo cáo quyết toán: Số liệu trên báo cáo quyết toán phải chính xác, trung thực, khách quan phải được tổng hợp từ các số liệu của sổ kế toán. Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán phải phù hợp và thống nhất vi chỉ tiêu dự toán năm tài chính và Mục lục NSNN, đảm bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các kỳ kế toán với nhau. Số liệu trên sổ sách kế toán của đơn vị phải đảm bảo cân đối khớp đúng với chứng từ thu, chi ngân sách của đơn vị và số liệu của cơ quan tài chính, Kho bạc nhà nước về tổng số và chi tiết Báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng theo mẫu biểu quy định, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu đã quy định, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng thời hạn và đầy đủ báo cáo tới từng nơi nhận báo cáo. Phương pháp tổng hợp số liệu và lập các chỉ tiêu trong báo cáo quyết toán phải được thực hiện thống nhất ở các đơn vị hành chính sự nghiệp, tạo điều kiện cho việc tổng hợp, phân tích, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước của cấp trên và các cơ quan quản lý nhà nước.
Thanh tra, kiểm tra quản lý tài chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Để đảm bảo các qui định về các mục thu chi ngân sách, cần tiến hành việc kiểm tra qui trình quản lý tài chính: Kiểm tra việc lập dự toán ngân sách: Các cơ quan kiểm tra cần kiểm tra căn cứ lập dự toán theo các văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính đối với các đơn vị dự toán cấp I, các hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên đối với đơn vị dự toán cấp II, III … Việc lập dự toán chi ngân sách phải lập theo hai nội dung riêng biệt, đó là kinh phí thực hiện chế độ tự chủ và kinh phí không thực hiện chế độ tự chủ. Khi kiểm tra phải kiểm tra từng phần theo dự toán kinh phí thực hiện chế độ tự chủ và dự toán phần kinh phí không thực hiện chế độ tự chủ. Kiểm tra việc thực hiện dự toán: Cơ quan kiểm tra thẩm tra xem việc xây dựng dự toán và điều chỉnh dự toán chi tiêu nội bộ (toàn tỉnh) có căn cứ vào dự toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao không? Có xây dựng và giao mức khoán kinh phí cho các huyện đúng quy định không? Kiểm tra sử dụng kinh phí thực hiện chế độ tự chủ, cần xem xét từng khoản chi phí thực hiện chế độ tự chủ có đúng quy định không? nhất là đối với các khoản chi thanh toán cá nhân, chi thanh toán dịch vụ công cộng, chi thuê mướn, chi vật tư, văn phòng, thông tin tuyên truyền, liên lạc, chi công tác phí trong nước, hội nghị, chi các đoàn đi công tác nước ngoài và đón khách nước ngoài vào Việt Nam… Kiểm tra việc sử dụng kinh phí quản lý hành chính giao để thực hiện chế độ tự chủ tiết kiệm được: Cuối năm ngân sách, sau khi đã hoàn thành các nhiệm vụ, công việc được giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có số chi thấp hơn số dự toán kinh phí quản lý hành chính được giao (kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, các khoản phí, lệ phí được để lại theo chế độ quy định, các khoản thu hợp pháp khác), kiểm tra cần xem xét kinh phí tiết kiệm được có sử dụng đúng nội dung và mục đích không? Kiểm tra việc công khai dự toán theo chế độ quy định không? Kiểm tra việc quyết toán kinh phí: Quá trình này, kiểm tra nên xem xét việc chuyển nguồn kinh phí (nguồn thực hiện chế độ tự chủ và không thực hiện chế độ tự chủ) sang năm sau có đúng không? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 kiểm tra lại số kinh phí tiết kiệm được, việc hạch toán kế toán và mục lục ngân sách có đúng quy định không? việc quyết toán ngân sách có đúng thời hạn, biểu mẫu không? Kiểm tra việc công khai quyết toán theo chế độ quy định không? 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của Kho bạc Nhà nước 1.
Nhân tố chủ quan Chất lượng cán bộ quản lý Công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính KBNN nói riêng hết sức phức tạp. Do đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải đảm bảo chất lượng cao đáp ứng được các yêu cầu của hoạt động quản lý. Theo đó, đội ngũ cán bộ quản lý phải phân bổ, sử dụng nguồn kinh phí tài chính cho các hoạt động nghiệp vụ, cho từng đơn vị một cách phù hợp, hợp lý bám sát định hướng, mục tiêu phát triển của nhà nước cũng như của tổ chức trong từng thời kỳ. Nếu đội ngũ cán bộ quản lý đảm bảo đủ chất lượng, trình độ, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức thì công tác quản lý tài chính KBNN sẽ đạt hiệu quả và ngược lại.
Bộ máy tổ chức quản lý Bộ máy tổ chức quản lý cũng là yếu có mức ảnh hưởng quan trọng đến công tác quản lý tài chính tại KBNN. Bộ máy tổ chức quản lý phải chú trọng đến mô hình tổ chức, cơ cấu phòng, ban nghiệp vụ. Quyền hạn trách nhiệm của từng khâu, từng bộ phận, cá nhân. Bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, vận hành đồng bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả côg tác quản lý tài chính, việc quản lý và phân bổ sử dụng kinh phí sẽ được thực hiện đúng mục đích, phù hợp với mục tiêu của đơn vi, hạn chế tình trạng sai phạm, rủi ro trong quản lý.
Sự phân biệt rõ ràng các nhiệm vụ quản lý, tránh việc chồng chéo cũng là một trong những yếu tố giúp nâng cao trách nhiệm của các cá nhân có liên quan trong công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp nhà nước nói chung và KBNN nói riêng. Ứng dụng công nghệ trong hoạt động quản lý Việc ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động quản lý tài chính sẽ tác động trực tiếp tới tốc độ, tính chính xác và hiệu quả của công tác quản lý (ở việc quản lý và sử dụng nguồn tài chính cho hoạt động nghiệp vụ). Một quy trình công nghệ hiện đại, thống nhất sẽ là cơ sở quan trọng để công tác phân bổ, giao dự toán ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 sách được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi. Công tác quản lý tài chính tại KBNN luôn đòi hỏi yêu cầu hiện đại hóa về công nghệ.
Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay, khi khối lượng tài chính đầu tư ngày càng lớn và nhiều thì việc phát triển ứng dụng công nghệ sẽ giúp tiết kiệm thời gian giải quyết công việc, đảm bảo công việc được diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm, chính xác và thống nhất. Do đó, việc xây dựng một cơ sở vật chất kĩ thuật công nghệ hoàn chỉnh cho hệ thống quản lý tài chính là một đòi hỏi tất yếu giúp hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn. Nhân tố khách quan Môi trường pháp luật Chế độ chính sách phải đồng bộ, thống nhất, mang tính khả thi, phù hợp với pháp luật hiện hành của Nhà nước, đảm bảo công tác quản lý tài chính tại KBNN diễn ra chặt chẽ, tuy nhiên cũng không được gây phiền hà. Bên cạnh đó chế độ chính sách phải mang tính ổn định, tránh thay đổi nhiểu nhằm tạo thuận lợi cho triển khai thực hiện.
Ngoài ra, hệ thống pháp luật, chế độ, tiêu chuẩn định mức về việc phân bổ tài chính cho là một căn cứ quan trọng để thực hiện quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp cũng như KBNN.