CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Giới thiệu chung về công trình thủy lợi Công trình thủy lợi là sản phẩm được tạo thành bởi trí tuệ và sức lao động của con người cùng vật liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền công trình nhằm mục đích ngăn ngừa hoặc hạn chế những mặt tác hại, khai thác sử dụng và phát huy những mặt có lợi của nguồn nước để phát triển kinh tế - xã hội. Cả nước hiện có hơn 6.886 hồ chứa nước, 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới, tiêu lớn, 234.000km kênh mương, 25. Các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 7,3 triệu ha đất gieo trồng lúa, 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, tiêu cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp, nâng dần mức đảm bảo phòng, chống lũ bảo vệ các khu đô thị, khu dân cư và phục vụ sản xuất.
Một số công trình, dự án thủy lợi lớn ở Nghệ An: - Công trình Hồ chứa nước Bản Mồng: Được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt dự án tại quyết định số 1478/QĐ-BNN-XD ngày 26/5/2009. Nhiệm vụ chủ yếu của công trình là cấp nước tưới cho 18.871 ha đất nông nghiệp ven sông Hiếu để phát triển nông nghiệp. Đồng thời công trình còn có chức năng quan trọng là tạo nguồn cấp nước cho sông Cả về mùa kiệt với lưu lượng 22m3/s, cấp nước cho sản xuất công nghiệp, dân sinh, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và cải tạo môi trường trong dự án. Các địa phương được hưởng lợi trực tiếp là các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Tân Kỳ, Anh Sơn.
Ngoài ra công trình còn có nhiệm vụ cắt lũ cho hạ du sông Hiếu, góp phần bảo vệ an toàn tài sản, tính mạng của nhân dân trong mùa mưa lũ và sản xuất điện với công suất 42MW. - Hệ thống thủy lợi Bắc Nghệ An: Được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt dự án tại quyết định số 1929/QĐ-BNN-TCTL ngày 14/8/2012. Nhiệm vụ công trình là tưới cho 27.656 ha đất nông nghiệp, tạo nguồn cấp nước cho công nghiệp 1,89m3/s và cho sinh hoạt 1,59m3/s thuộc địa bàn 4 huyện Đô Lương, Diễn Châu, Yên Thành và Quỳnh 3 Lưu; tiêu úng và giảm ngập cho khoảng 1.920 ha vùng trũng 2 huyện Yên Thành và Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. - Công trình Cống Nam Đàn: được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt dự án tại quyết định số 3060/QĐ-BNN-XD ngày 07/10/2008, cấp nước tưới cho khoảng 19.472 ha đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và sinh hoạt của các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò.
Chất lượng các công trình thủy lợi ở nước ta hiện nay 1. Đặc điểm các công trình thủy lợi Công trình thủy lợi nhằm cải tạo thiên nhiên, khai thác các mặt lợi và khắc phục các mặt hại của nước để phục vụ cho nhu cầu của con người. Các công trình thủy lợi phải thường xuyên đối mặt trực tiếp với sự tàn phá của thiên nhiên, trong đó có sự phá hoại thường xuyên và sự phá hoại bất thường. Công trình thủy lợi là kết quả tổng hợp về lao động của rất nhiều người trong nhiều lĩnh vực, bao gồm từ các công tác quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, chế tạo, thi công, đến quản lý khai thác, chứa đựng rất nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau.
Vốn đầu tư công trình thủy lợi thường lớn theo điều kiện cụ thể của từng vùng. Các công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, bao gồm tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất, môi trường sinh thái. Công trình thủy lợi muốn phát huy hiệu quả phải được xây dựng kênh mương đồng bộ khép kín từ đầu mối đến tận ruộng. Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiết kế không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ, phải đều có một tổ chức Nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng.
Nhiều nông dân được hưởng lợi từ một công trình thủy lợi hay nói cách khác một công trình thủy lợi phục vụ cho nhiều người dân trong cùng một khoảng thời gian. 4 Hệ thống công trình thủy lợi nằm rải rác ngoài trời, trên diện rộng, có khi qua các khu dân cư, nên ngoài việc chịu sự tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động của con người. Hiệu quả của công trình thủy lợi hết sức lớn lao và đa dạng, có loại có thể xác định được bằng tiền hoặc khối lượng vật chất cụ thể, nhưng có loại không xác định được. Riêng về lĩnh vực tưới tiêu thì hiệu quả thực hiện ở mức độ tưới hết diện tích, tạo khả năng tăng vụ, cấp nước kịp thời đảm bảo yêu cầu dùng nước của một số loại cây trồng, chi phí quản lý thấp, tăng năng suất và sản lượng cây trồng… góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân nông thôn.
Việc quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi của cộng đồng này có ảnh hưởng tới việc quản lý và sử dụng các công trình của cộng đồng khác. Các công trình thủy lợi không được mua bán như các công trình khác. Do đó hình thức tốt nhất để quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi là cộng đồng tham gia. Về tổ chức quản lý, Hệ thống công trình thủy lợi được xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước do doanh nghiệp Nhà nước có tên là công ty khai thác công trình thủy lợi trực tiếp khai thác và bảo vệ.
Các công trình thủy lợi phải được quy hoạch và thiết kế xây dựng mang tính hệ thống đòi hỏi phải dựa trên những cơ sở khoa học cùng với thực tế của từng địa phương và cần một lượng vốn lớn. Bên cạnh những quy hoạch và thiết kế xây dựng cần có sự tham gia của chính cộng đồng hưởng lợi trực tiếp từ các công trình đó và có sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn cũng như việc điều hành thực hiện quản lý các công trình thủy lợi đó, có như vậy các công trình thủy lợi sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng mới mang lại hiệu quả cao như mong đợi cũng như đúng với năng lực thiết kế ban đầu. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy lợi 1. Nhân tố khách quan - Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tác động thời tiết bất lợi Công tác thủy lợi hiện đang phải đối mặt với nhiều rủi ro liên quan đến thời tiết, khí hậu.
Chất lượng công trình thủy lợi chịu tác động lớn bởi hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây ra. 5 Tác động của biến đổi khí hậu, các tác động bất lợi của quá trình phát triển, những hiện tượng cực đoan về thời tiết, khí hậu, đe dọa an toàn đập và tăng nguy cơ lũ cho vùng hạ du, hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Sự phân phối dòng chảy trong năm là bất lợi, mực nước các sông có xu hướng cạn thấp dần trong mùa khô, nhưng lại dâng cao về mùa lũ. Các thiên tai nghiêm trọng như lũ quét, lũ lụt, sạt lở đất ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi, nhất là các công trình thủy lợi nhỏ.
Diễn biến thời tiết, nguồn nước bất lợi là nguyên nhân chính của hạn hán và xâm nhập mặn. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT về tình hình hạn hán và xâm nhập mặn ở vùng miền Trung và Tây Nguyên, mùa mưa năm 2012 kết thúc sớm hơn thường lệ từ 1 - 1,5 tháng; tổng lượng mưa cả năm thiếu hụt so với trung bình nhiều năm từ 20 - 30%; mực nước và dòng chảy trên các sông suối thiếu hụt so với trung bình nhiều năm từ 20 - 60%; mực nước ngầm thấp hơn so với bình thường từ 1-2 m, riêng Tây Nguyên thậm chí thấp hơn từ 2-3m (Bộ NN&PTNT, 2013). Hơn bốn tháng kể từ cuối năm 2014 đến tháng 4/2015, tại hầu hết các khu vực trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận đều không có mưa; duy nhất chỉ có cơn mưa nhỏ vào sáng ngày 13/4/2015. Tại thời điểm 4/2015, tổng dung tích các hồ chứa trên toàn tỉnh chỉ còn lại 9,3%, so với cùng thời kỳ năm 2014 là 31,3% (Trung tâm khí tượng thủy văn Ninh Thuận, 2015).
Do không có mưa, mực nước và lưu lượng dòng chảy trên sông suy giảm nên nhiều cửa sông ở khu vực miền Trung bị xâm nhập mặn vào sâu trong nội địa, ranh mặn 1g/lít ở nhiều nơi vào tới 20-30 km. - Tác động bất lợi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội gây ra (suy giảm chất lượng rừng, phát triển hồ chứa thượng nguồn, khai thác cát và lún ở vùng hạ du; phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thông cản trở thoát lũ.) tác động bất lợi cho hệ thống công trình thủy lợi, đặc biệt hệ thống lấy nước dọc các sông lớn trên toàn quốc, hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long. - Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đòi hỏi yêu cầu cao hơn về thủy lợi; nhu cầu tiêu, thoát nước của nhiều khu vực tăng lên nhiều so với trước đây, nhu cầu nước cho sinh hoạt, công nghiệp từ hệ thống công trình thủy lợi tăng, mức đảm bảo an toàn tăng. Các công trình thủy lợi còn thiếu dẫn đến việc điều tiết giữa mùa mưa và mùa khô còn hạn chế nên chưa đáp ứng được nhu cầu dùng nước của các hộ dùng nước.
Nhân tố chủ quan - Việc thực hiện đầu tư xây dựng và quản lý khai thác công trình thủy lợi còn nhiều bất cập, thiếu đầu tư tập trung và đồng bộ phục vụ đa mục tiêu, còn tình trạng rải đều nên công trình thủy lợi chưa được xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh, các thiết bị phục vụ cho quản lý khai thác bị thiếu thốn nghiêm trọng. - Công nghệ thi công trước kia còn hạn chế: Chất lượng thi công xử lý nền, đất đắp tại các vị trí tiếp giáp (thân với nền, nền, các vai, mang công trình.) không đảm bảo chất lượng, gây thấm qua thân đập, nền đập.