CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CHAT LƯỢNG DAP Đ, 1. Tình hình chung về xây đựng đập đắt ở nước ta Từ nhiều thé ky qua, con người đã biết xây dựng các đập ngăn ng để tạo hỗ trừ nước tự nhiên, điều tiết đồng chảy phục vụ nhu cầu sử dụng nước và hạn chế lũ lụt, phát trién thủy điện, tạo môi trường sinh thái. Với rất nhiều lợi ích mang lại như đã kể trên, nên trong những thập kỷ qua số lượng. đập tạo hỗ chứa nước trên Thế giới được xây dựng ngày cảng nhiều.
Nước ta cũng không nằm ngoài xu hướng đó, hầu hết đập đắt ở Việt Nam được xây. dựng từ năm 1954 ở miễn Bắc va từ sau năm 1975 trên cả nước. Ở nước ta, số. đập đất tạo hồ chứa nước chiếm khoảng 90%, còn lại là đập bê tông và vật liệu khác.
Tinh đến nay chúng ta đã xây dựng được trên 6500 hỗ chứa thủy lợi với tổng dung tích trữ nước khoảng 11 tý m`. Trong đó có 560 hồ chứa có dung tích trữ nước lớn hơn 3 triệu m` hoặc đập cao trên 15m, 1752 hỗ có dung tích từ 0,2 triệu đến 3 triệu m” nưới côn lại là những đập nhỏ có dung tích dưới 0,2 triệu mỶ nước [3]. - Các tỉnh đã xây dựng nhiễu hồ chứa là + Nghệ An 625 hồ chứa + Thanh Hóa _ 618 hồ chứa +Hòa Bình 521 hồ chứa + Tuyên Quang 503 hồ chứa +Bắc Giang 461 hồ chứa + Đắc Lắc 439 hồ chứa +Hà Tĩnh 345 hồ chứa + Vĩnh Phúc - 209 hồ chứa + Bình Định 161 hồ chứa + Phú Thọ _ 124 hỗ chứa ~ Giải đoạn 1960 + 1975: Chúng ta đã xây dựng nhiều hồ chứa có dung tích trữ nước từ 10 + 50 triệu m3 như: Đại Lai (Vĩnh Phúc); Suối Hai, Dong Mô (Hà Nội; Khuôn thần (Bắc iang); Thượng Tuy, Khe Lang (Ha Tinh); Rảo Nan, Cảm Ly (Quảng Bình); đặc biệt hỗ Cắm Son (Lạng Sơn) có. dung tích 248 triệu m’ nước với chiều cao đập đất 40m (đập dat cao nhất lúc bấy giờ).
~ Giai đoạn 1975 + 2000: Sau khi đất nước thống nhất chúng ta đã xây dựng được hàng ngàn hồ chứa trong đó có nhiều hồ chứa nước lớn như: Núi (Thái Nguyên); Kè Gỗ (Hà Tĩnh); Yên Lập (Quảng Ninh); S ng Mực (Thanh Hóa); Phú. trong đó hỗ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m’. Các địa phương trên cả nước đã xây dựng trên 700 hồ chứa có dung tích từ 1+10 triệu m’, Đặc biệt trong giai đoạn nay các huyện, xã, hợp tác xã, nông trường đã xây dựng hàng ngàn hồ chứa có dung tích trên dưới 0,2 triệu mẺ, ~ Giai đoạn từ năm 2000 đến nay: Bằng nhiều nguồn vốn đặc biệt là nguồn vốn trái phiểu chính phủ, Bộ NN&PTNT đã quản lý đầu tư xây dựng mới nhiều hồ chứa có qui mô lớn và vừa như: Cửa Đạt (Thanh Hóa): Định Binh (Binh Định); Ta Trạch (Thừa Thiên Huế); Nước Trong (Quảng Ngãi Đá Hàn (Hà Tinh); Rio Đá (Quang Binh); Thác Chuối (Quảng Trị); Kroong Buk Hạ, IaSup Thượng (Đắc Lắc). Đặc điểm chung của các hồ chứa thủy.
lợi là đập chính ngăn sông tạo hồ, tuyệt đại đa số là đập đất. ~ Nhận định chung Hơn một nửa trong tổng số hồ đã được xây dựng và đưa vào sử dụng trên 25 + 30 năm nhiều hỗ đã bị xuống, Những hỗ dụng tích từ | trigu mỸ nước trở lên đều được thiết kế và thi công bằng những lực lượng chuyên nghiệp trong đó những hồ có dung tích từ 10 triệu mỶ trở. lên phần lớn do Bộ Thủy lợi (trước đây) và Bộ NN&PTNT hiện nay quản lý vốn, kỹ thuật thiết kế và thi công. Các hỗ có dung tích từ 1 triệu + 10 triệu m` nước phần lớn là do UBNN tinh quản lý vốn, kỹ thuật thiết kế thi công.
hồ nhỏ phần lớn do huyện, xã, HTX, nông trường tự bỏ vốn xây dựng và quản lý kỹ thuật. Những hi lớn được đầu tư tiền vốn và kỹ thuật tương, đủ thì chất lượng xây dựng đập đạt được yêu cầu. Còn những hồ nhỏ. do thiểu tải liệu cơ bản như: Địa hình, địa chị ,thủy văn, thiết bị thi công, lực lượng kỹ thuật và nhất là đầu tư kinh phí không đủ nên chất lượng đập chưa tốt, mức độ an toàn rat thấp.
Những vấn đề liên quan đến chất lượng đập dat An toàn đập là từ lâu đã được nhiều quốc gia quan tâm. Đập đất d tỷ lệ cao trong số các đập ngăn sông dé tao hồ chứa ở Việt Nam. Hư hong của đập đất thường tiềm an sự mắt an toan, nhiều trường hợp đã gây ra thảm họa vỡ đập. Do vậy, các công tác khảo sát, thiết kế, thi công có anh hưởng rất lớn đến chất lượng và sự an toàn của đập dat.
Khảo sát Trong xây đựng công trình thủy lợi nói chung và xây dựng đập đất nói riêng, công tác khảo sát địa chất là công việc phải thực hiện đầu tiên và có. tính chất cực kỳ quan trọng, nó không những tác động đến giá thành, hiệu quả của dự án mà còn tác động rit lớn đến sự an toàn của công trình. Công tic khảo sát còn giúp ích rất nhiều cho việc lựa chọn các vật liệu đất tốt nhất, tuyến đập tốt nhất. Tài liệu khảo sát địa chất nền, vai đập, khảo sát thăm dò vật liệu Công tác khảo sát đánh giá điều kiện địa chất công trình và vật liệu xây dựng — mỏ khai thác vật liệu là một trong những công đoạn khó và rất phức.
tạp trong các giai đoạn thiết kế công trình, đặc biệt là giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Một thực tế là kết cấu công trình phụ thuộc rất lớn vào công tác khảo. Nếu chất lượng công tác khảo sát tốt, sẽ giúp cho nhà thiết kế chọn giải pháp công trình phù hợp, quy mô, hợp lý thoải man di kiện kinh kỹ thuật, Khảo sát móng cn thận và day đủ sẽ hạn chế thiểu rủi ro bất ngờ khi mở móng xây dựng công trình, hoặc không phi xử lý kỹ thu khi kết quả khai thác vật liệu tại bãi hoàn toàn phủ hợp với tài liệu khảo sát va tính toán kiểm tra, Qua những sự cố của các đập xảy ra, xem xét nguyên nhân gây ra sự cố, xét ở góc độ khảo sát cơ bản, công tác khảo sát còn những hạn chế do những yếu tổ sau - Công tác khảo sát phục vụ cho tải liệu báo cáo chưa đảm bảo đúng trình tự, quy trình, quy phạm. Chủ nhiệm dự án chưa làm đủ, làm đúng các yêu cầu kỹ thuật trong khảo sát, còn xem nhẹ tim quan trọng của nó, tai liệu thăm đồ ít, sơ sai ~ Do hạn chế của điều kiện thiết bị, từ khoan đến dụng cụ thí nghiệm nên độ chính xác của thông số thí nghiệm còn hạn ch iit dip đập ở vùng Tây Nguyên Nam Trung Bộ có các tỉnh chất cơ lý đặc biệt mà các vùng khác ít gặp [6].
Nếu nön khoan được bảo vệ can thận, đảm bảo đúng trang thái nguyên dang thì kết quả thí nghiệm các cl lều cơ lý sẽ phản ánh đúng. Ngược lại nếu thi bị khoan cũ kỹ, đô chính xác cơ khí kém thì phôi lấy ra đã bị tác động cơ khí, tính nguyên dang của phôi bị ảnh hưởng. tổ thứ hai cũng in là : Do cấu trúc địa ting thay đổi và ngay cả trong ct 1g một lớp cũng thay đổi. Vì vậy nếu công tác khảo s; không chỉ tiết, không phân vùng, phân lớp, tai liệu thi nghiệm lấy từ trị số.
bình quân thì rõ ràng kết qua lựa chọn trong đầm nén càng sai khác nhiều so. với thực tế 1. Tài liệu co bản phục vụ cho tính toán thủy văn công trình. Như ta đã biết tải liệu thủy văn đóng vai trò rất quan trọng trong tính toán dong chảy.
Để kết quả tính toán lũ dam bảo độ tin cậy thì chuỗi số liệu cơ bản phải đầy đủ và tinh đại biểu phải cao. Thực tế cho thấy tải liệu đo đạc thủy văn ở hau hết các công trình ở Tây Nguyên rit ngắn. Khi tai liệu đo đạc còn ngắn, lại chưa có phương pháp kéo dai tài liệu cho phủ hợp, vì vậy dẫn đến kết quả tính toán với độ tin cậy thắp [6|. Một số hồ chứa do không có trạm đo nên phải dung tai liệu tương tự của vùng tương tự.
Trong trường hợp này khi mượn tải liệu tính thi phải đưa ra những chỉ số hiệu chỉnh, điều này bị hạn chế khi tài liệu cơ sở cho tính toán cũng thiểu. Mặt khác khâu điều tra, thu thập chỉnh lý số liệu những trận mưa lũ lịch sử theo khu nghiên cứu, hay triển sông, đánh giá tính đại biểu cia chuối số liệu còn hạn chế. Từ những mặt trên việc xác định thông số của ding chảy lũ chưa được sát với thực tế, Phần nhiều là trị số tính toán nhỏ hơn lưu lượng xây ra sau khi hệ thống đầu mỗi bước vào hoạt động. Tài liệu khảo sát địa hình chưa diy đủ hoặc độ chính xác không đảm bio Tai liệu khảo sát địa hình là cơ sở cho việc xác định kích thước, chọn tuyến và kết cấu công trình, công tác khảo sát chính xác là phần nối tiếp công.
trình sẽ hợp lý, công trình lại làm việc bình thường với dòng chảy thiết kế “Thực tế cho thấy tác khảo sắt công trình loại vừa và nhỏ còn có những tổn tại, ảnh hưởng không ít đến việc lựa chọn kết cấu công trình. Thiết kế Trải qua lịch sử xây dựng và phát triển đập đất ở nước ta từ trước tới nay, công tác thiết kế là một trong những bước cơ bản và quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và an toàn đập đất nhiều năm về lu, Ở nước ta hiện nay, công tác thiết kế luôn được trú trọng rất tốt và đã có một nên tảng. khá vững chắc, đảm bảo khá tốt được các tiêu chi về kinh tế và an toàn trong quá trình thí công và quản lý vận hành về sau. Sau đây là những phân tích anh giá về mặt này, 1.
Quy phạm tính toán thiết kế lũ a, Hệ thống hóa tiêu chuẩn tính toán lũ thiết kế công trình Hiện nay, quy phạm tính toán lũ của ta còn nhiều vấn dé cần được giải quyết sớm. Đã có nhiều quy phạm được biên soạn va sử dụng, một số quy. phạm đó là ~ Quy phạm biên soạn lần thứ nhất năm 1963: Là bộ quy phạm đầu tiên quy định tính toán cho thiết kế ở nước ta. Quy phạm được biên soạn dựa trên cơ sở của kinh nghiệm các nước khối Xã hội chủ nghĩa và Liên Xô cũ.