Chương 1: Lý luận cơ bản về công tác kế toán theo cơ chế tự chủ tài chính trong, đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán theo cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Chất lượng Công trình Xây dựng Quảng Ngãi Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán theo cơ chế tự chủ tài chính tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định Chất lượng Công trình Xây dựng Quảng Ngãi. Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Công tác kế toán là công việc hạch toán kế toán, vận dụng các phương.
pháp kể toán để thu nhập, xử lý và cung cắp thông tin trên cơ sở chấp hành nghiêm chinh các chính sách, chế độ tài chính hiện hành nhằm phát huy hết vai trò của hạch toán ké toán góp phần quản lý, điều hành đơn vị có hiệu quả; có vai trò quan trọng trong việc áp dụng phù hợp giữa cơ sở lý thuyết về công tác kế toán với thực tế công việc kể toán cụ thé tại đơn vị, Bộ Tài chính đã ban hành chế độ cụ thể hướng dẫn thực hành kế toán thông qua Luật, Nghị định, Thông tư và các hướng dẫn về chính sách, chế độ tài chính áp dụng ở các đơn vị sự nghiệp nói chung, không phân biệt lĩnh vực hoạt động theo đặc thù của từng ngành và chưa có ban hành Chuẩn mực kế toán áp dụng cho lĩnh vực ngành xây dựng nói riêng. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 107/2017/TT-BTC thay thể Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC và thay thế thông tư 185/2010/TT-BTC và áp dụng chung cho tắt cả đơn vị HCSN không phân biệt lĩnh vực, ngành nghề đặc thù riêng biệt và được áp dụng kể từ ngày 01/01/2018. Trên thực tế, đã có nhiều. tác giả nhận thức được sự khác biệt của mỗi ngành nên đã có các công trình di sâu nghiên cứu về công tác của từng ngành, từng loại hình đơn vị cụ thể.
“Chính vì vậy, trong những năm qua, vấn để này đã được nhiều tổ chức, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với các góc độ, khía cạnh, lĩnh vực tiếp cận khác nhau. Trong nghiên cứu gần đây về công tác kế toán, các tác giả chủ yếu đề cập đến nguyên lý và nguyên tắc chung về công tác kế toán, đặc điểm công tác kế toán trong một số loại hình doanh nghiệp đặc thù. Có thẻ kẻ đến. các công trình nghiên cứu như: *Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hương (2013); “Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Địn (năm 2014).
“Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở. XXây dựng thành phố Đà Nẵng” của tác giả Đăng Thị Thảo Nguyễn (2015), * Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trường Đại học Công nghiệp Việt - Tung” của tác giả Đảo Diệu Liên (2017). Luận van “Hoan thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Thu Hương (2013) đã đánh giá được thực trạng việc tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Khoa học công nghệ và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện hơn công tác tổ chức kế toán, tuy nhiên chưa có giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức kế toán trong việc quản lý nguồn kinh phí, các khoản chỉ và sử dụng kết quả tài chính. Đối với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuận Thanh (2014) với dé tai *Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp thuộc Sở ï nguyên và Môi trường tinh Bình Định”, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê như: So sánh, tổng hợp, phân tích.
tác giả đã chỉ ra nhưng tổn tại trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn vẻ tổ chức hạch toán kế toán làm. cơ sở để hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ngành tải nguyên môi trường. Tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán kế toán để nâng cao hiệu quả quản lý tải chính tại các đơn vị HCSN ngành tài nguyên môi trường và điều kiện tiến hành thực hiện các giải pháp đó. Luận văn của Đặng Thị Thảo Nguyên (2015) với để tài “Hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Xây dựng thành phố Đà Nẵng”, đã nêu được thực trạng công tác kế toán, nêu được các giải pháp hoàn.
thiện công tác kế toán, công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp. thuộc Sở Xây dựng Thành phố Đà Nẵng. Tác giả cũng đã nêu được giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Xây dựng Thành phố Đà Nẵng, hạch toán kế toán theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC và. áp dụng Nghị định 43/2006/NĐ - CP về cơ chế tự chủ tài chính.
Đối với nghiên cứu của Đào Diệu Liên (2017) với đẻ tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại trường Dai Học Công nghiệp Việt - Hung” đã nêu được thực trạng tổ chức bộ máy kế toán, định hướng phát triển Trường Đại Học Công nghiệp Việt - Hung, các giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán tại Trường. “Tuy nhiên các luận văn trước đi sâu tìm hiểu công tác kế toán các đơn vị sự nghiệp theo Quyết định 19/2006/QĐ-BTC, cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu công tác kế toán riêng biệt về công tác kế toán theo cơ chế tự chủ tại Trung tâm Quy hoạch và Kiểm định. Chất lượng Công trình Xây dựng thuộc Sở Xây dựng Quảng Ngãi trong điều kiện đơn vị đang thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo nội dung của Nghị định 141/2016/NĐ-CP của Chính phủ và hạch toán kế toán theo Thông, tư 107/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính CHUONG1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN THEO CO CHE TY’ CHỦ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP. ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP, QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DON SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP.
Đơn vị sự nghiệp công lập và tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm Để cung cấp các dịch vụ công, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực. tiếp ra quyết định thành lập cho phép thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ. công, các đơn vị này gọi là đơn vi sự nghiệp công lập (DVSNCL).
Trong quá trình hoạt động, ĐVSNCL được phép thu một số khoản phí theo quy định của. Nha nước để bù đắp một phần hay toàn bộ chỉ phí hoạt động gọi là tự trang. trải một phần hoặc trang trải toàn bộ chi phí hoạt động. ĐVSNCL tạo ra là những giá trị về giáo dục, đào tạo, trì thức, khoa học công nghệ, sức khoẻ, văn hoá, đạo đức.
Đây là những sản phẩm vô hình có thể dùng cho nhiều. người, nhiều đối tượng với phạm vi cung cấp rộng; có giá trị, giá trị sử dụng. đồng thời có giá trị xã hội cao và có thể trở thành hàng hoá cung cấp cho mọi 'thành phẳn, mọi cộng đồng trong xã hội. Dựa trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của ĐVSNCLL trong việc cung cấp các dịch vụ công, Giáo trình “Quản ly tai chính công” Học viện Tài chính đưa ra khái niệm: *ĐVSNCL là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động, thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân”(Học viện tài chính, 2009, Trang 282) Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/02/2015 thì * Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẳm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước” (Điều 1 - Điểm 2 - Nghị định 16/2015).
Cho dù các nội dung khái niệm có thể khác nhau, nhưng nhìn chung các văn bản pháp luật và các học giả đều thống nhất chung: ~_ ÐVSNCL là các đơn vị do Nhà nước thành lập, cho phép thành lập. một cách hợp pháp hay nói cách khác, đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vi được Nhà nước thành lập một cách hợp pháp phục vụ quản lý Nhà nước: ~_ Mục tiêu là cung cấp các dịch vụ công cho xã hội; ~ _ Nguồn kinh phí là do NSNN cấp toàn bộ hoặc một phần, phần còn lại được lấy thu để bù đắp chỉ phí. Cơ chế thu, chỉ theo quy định của pháp luật; Như vậy, theo Tác gid thi đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thâm quyên, các tổ chức h trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của Pháp luật, nhằm cung cấp dịch vụ công, phục vụ theo yêu cầu của Nhà nước và theo yêu cầu của xã hội Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động của ĐVSNCL do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép làm dịch vụ công thu tiền theo quy định của pháp luật. Đặc điễm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập ~ ĐVSNCL đo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm được.
thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau (tổ chức, hành chính, kinh tế.) công cụ quản lý cũng khác nhau (pháp luật, thanh tra, kiểm tra, đánh giá.) Do đó, hoạt động của đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền với quyền lực của Nhà nước. Quản lý hoạt động sự nghiệp tại đơn vị phải đặc biệt chú trọng đến các phương pháp, công cụ mang tính quyền lực, mệnh lệnh nhằm đảm bảo tính tập trung, thống nhắt, đó là sử dụng các phương pháp tô chức, hành chính, các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm tra, giám sắt. ~ Mục đích hoạt động của các ĐVSNCL là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng. Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra đều có thẻ trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội.
Việc cung ứng các hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh, Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lính vực kinh tế - xã hội hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và ngày cảng đạt hiệu quả cao.