Chương 1 HỆ THỐNG KẾ TOÁN CÁC QUỐC GIA 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG KẾ TOÁN CÁC QUỐC GIA: 1. Hệ thống kế toán kép – nền tảng của kế toán hiện ñại: Kế toán là một công cụ hữu hiệu không chỉ giúp cho các nhà quản lý nắm ñược thực trạng tài chính nhằm hoạch ñịnh kế hoạch phát triển cho tương lai của công ty mà còn là mối quan tâm của các nhà ñầu tư tài chính, các ngân hàng, Nhà nước… nhằm phục vụ cho những mục ñích của mình. Hạch toán kế toán gắn liền với sản xuất, do ñó ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ người ta ñã sử dụng hạch toán kế toán ñể ghi chép theo dõi quá trình sản xuất.
Trong thời kỳ này, khi công việc của con người chỉ ñơn thuần là lao ñộng ñể tồn tại thì mọi thứ dường như hết sức ñơn giản, người ta có thể tự nhẩm và nhớ mọi sự kiện diễn ra hoặc ñánh dấu các sự kiện này bằng cách vẽ chúng lên thân cây, vách ñá… Các bản ghi kế toán ñã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng ñất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mì, dê, quần áo. Các bản ghi này ñược gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận ñược. Việc giữ các bản ghi vẫn chưa ñược hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice và Genoa nước Ý. Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện ñược bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân ñối.
Tuy nhiên, phải ñến năm 1299 con người mới phát triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế toán kép. Năm 1494 khi cuốn sách Summa de Arithmetica, Geimetrica, Proportioni et Proportionalita của Luca Pacioli ra ñời thì hệ thống kế toán kép mới ñược miêu tả một cách cụ thể và rõ nét. Trong cuốn 123doc 6 sách của mình Pacioli giới thiệu 3 dạng sổ dùng ñể ghi chép: sổ ghi nhớ, sổ nhật ký và sổ cái. Sổ ghi nhớ bao gồm toàn bộ các thông tin về nghiệp vụ.
Từ sổ ghi nhớ, bút toán nhật ký ñược ghi sổ, sau ñó chuyển vào sổ cái. Pacioli cho rằng các nghiệp vụ phải ñược ghi vào ñồng thời bên Nợ và bên Có các tài khoản, tổng số bên Nợ phải ngang bằng với tổng số bên Có. Phương pháp này còn nhấn mạnh ñến việc sử dụng hệ thống các sổ phụ, sổ chi tiết và sổ tổng hợp. Như vậy, với phát minh của Pacioli, kế toán có những bước phát triển mới nhưng cũng chỉ là sự hình thành một cách tự phát nhằm mục ñích phục vụ cho các chủ nhà buôn mà chưa có ñược một hệ thống kế toán mang tính hoàn chỉnh và khoa học, tầm quan trọng của kế toán cũng chưa ñược nhận thức ñầy ñủ.
Sự phát triển của hệ thống kế toán các quốc gia: 1.1 Giai ñoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ II: Thế kỷ 16 và 17 ñược coi như một cuộc cách mạng của con người trong nỗ lực áp dụng các nguyên tắc kế toán kép. ðến thế kỷ 19, người ta bắt ñầu quan tâm ñến việc xây dựng lý thuyết kế toán, ñó là việc tạo lập những khoản mục trong bảng cân ñối kế toán, những tính chất chung cho việc gọi tên các khoản mục theo một thuật ngữ ñặc biệt. ðiều này ñã làm cho việc nghiên cứu lý thuyết kế toán càng ngày càng rộng mở với nhiều khuynh hướng không giống nhau ra ñời. Những lý thuyết về nhân cách, quản lý, về pháp luật, về kinh tế, … ñã làm cho việc nghiên cứu kế toán hoàn toàn thay ñổi theo một quan niệm mới là phải ñược số liệu xác thực và kế toán trở thành trái tim và ý niệm của mọi nhà tài chính và tất cả những người có liên hệ gần xa ñến hoạt ñộng của doanh nghiệp.
Ở giai ñoạn này chỉ có một số quốc gia tư bản như Anh, Mỹ, Pháp, ðức. ñã hình thành hệ thống kế toán quốc gia của riêng mình, tuy nhiên theo nhiều hướng khác nhau. ðiều cần chú ý là một hệ thống kế toán quốc gia chỉ ñược coi như hình thành khi có một ñịnh chế mang tính chất quốc gia tìm cách ñưa ra một số quy ñịnh, hướng dẫn 123doc 7 cho kế toán trong phạm vi biên giới lãnh thổ. ðó có thể là tổ chức nghề nghiệp hoặc Nhà nước.
Hệ thống kế toán Pháp chịu ảnh hưởng lớn của Luật thương mại. Luật thương mại ra ñời vào ñầu những năm 1800 từ cuộc cách mạng Pháp, luật này quy ñịnh một cách rõ ràng trách nhiệm phải giữ sổ sách kế toán và lập các báo cáo tài chính. Luật thương mại dựa trên căn cứ những ý tưởng của ðức và ñược phát triển trong thời kỳ ðức chiếm ñóng những năm 1940-1945. Trong thời kỳ Pháp chịu sự thống trị của ðức, ý tưởng chuẩn mực hoá công tác kế toán thông qua hệ thống tài khoản kế toán thống nhất do một giáo sư người ðức tên Schmalenbach ñề xướng năm 1932 và áp dụng ở ðức năm 1937.
Ý tưởng này ñã lan truyền và áp dụng ở Pháp trong giai ñoạn này. ðầu năm 1941 chính quyền Vichy ñã xây dựng một dự án cho việc soạn thảo Luật kế toán quốc gia. Các cơ quan liên Bộ ñược giao trách nhiệm là các cơ quan ñại diện của các tổ chức quan trọng trong khu vực tư nhân và những nhà kế toán giỏi. Dự ñịnh này chưa thực hiện thì chính quyền Vichy bị sụp ñổ.
Những ý tuởng ban ñầu cho việc ra ñời phiên bản ñầu tiên của một tổng hoạch ñồ kế toán (PCG) ñã ñược hình thành nhưng ñã bị phản ñối mạnh mẽ của cộng ñồng doanh nghiệp do chịu quá nhiều ảnh hưởng của ðức, nhưng nó cũng là cơ sở ñể Pháp xây dựng tổng hoạch ñồ kế toán mới sau này. Ở Mỹ, người ta cũng quan tâm rất sớm ñến sự cần thiết việc chuẩn mực hoá công tác kế toán, các nguyên tắc kế toán chung ñược thừa nhận xuất hiện vào khoảng năm 1913 khi quốc hội Mỹ thông qua luật thuế thu nhập ñầu tiên cấp liên bang. Thế nhưng phải ñến cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929, các nhà kinh tế mới nhận thức ñầy ñủ tầm quan trọng của thông tin tài chính. Mãi ñến năm 1930, báo cáo tài chính của các công ty vẫn hầu như không bị ràng buộc bởi một quy ñịnh nào.
Chỉ ñến khi Uỷ ban chứng khoán (SEC) ra ñời, bằng quyền lực, chính phủ liên bang ñã bắt buộc các công ty niêm yết ñều phải thực hiện kế toán và kiểm toán theo một tiêu chuẩn chung. ðến năm 1939, hệ thống Chuẩn mực kế toán của Mỹ ñược xây dựng bởi Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA). Như vậy, ñối với hệ thống kế toán Mỹ thì các 123doc 8 ñịnh chế về kế toán phức tạp hơn do sự tương tác của nhiều tổ chức trong giai ñoạn này. Các chuẩn mực báo cáo kế toán tài chính ñược ban hành bởi Hội ñồng thủ tục kế toán (CPA) thuộc AICPA.
Ủy ban chứng khoán (SEC) quy ñịnh những yêu cầu về báo cáo kế toán mà các công ty cổ phần niêm yết cần tuân thủ. Ở Anh, kế toán phát triển rất sớm nhưng các ñịnh chế mang tính quốc gia thì lại trễ. Các vấn ñề về kế toán ñược quy ñịnh ñầu tiên trong Luật công ty cổ phần năm 1844. Tuy nhiên, suốt thế kỷ 19 và cho ñến trước Chiến tranh thế giới lần thứ II vẫn không có các quy ñịnh về kế toán và kiểm toán mang tính bắt buộc trong các ñạo luật Công ty, mặc dù các tổ chức tài chính, các công ty cổ phần.
ñã ñưa ra nhiều quy ñịnh về kế toán ñể áp dụng.2 Giai ñoạn sau Chiến tranh thế giới lần thứ II: Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, hệ thống kế toán quốc gia của nhiều nước bắt ñầu hình thành và phát triển ở những mức ñộ và với những xu hướng khác nhau: Các quốc gia tư bản phát triển tiếp tục hình thành và củng cố hệ thống kế toán quốc gia: Năm 1972 Hội ñồng chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) của Mỹ ñược thành lập bao gồm 7 thành viên ñến từ khu vực kế toán công, ngành nghề tư nhân, khu vực hàn lâm và cơ quan giám sát. Từ năm 1973, FASB là cơ quan ñược chỉ ñịnh trong khu vực tư nhân có thẩm quyền thiết lập các chuẩn mực kế toán và báo cáo tài chính chi phối việc lập các báo cáo tài chính. SEC và AICPA công nhận các chuẩn mực kế toán do FASB ban hành. Các chính sách của SEC là dựa vào các chuẩn mực của FASB trong phạm vi các chuẩn mực này ñáp ứng các yêu cầu phục vụ quyền lợi của các cổ ñông.
Các tuyên bố của những tổ chức tiền thân này vẫn còn hiệu lực trừ khi ñược sửa ñổi hoặc thay thế bởi FASB. 123doc 9 Ở Pháp, sau thế chiến thứ II, chính phủ Pháp muốn quản lý nền kinh tế theo chuẩn chung nên ñã thiết lập Ủy ban ñể tiến hành việc chuẩn mực hoá. Năm 1947, Uỷ ban này ñã ban hành Tổng hoạch ñồ kế toán chính thức lần ñầu tiên. Lúc ñầu Tổng hoạch ñồ chỉ áp dụng bắt buộc ñối với các doanh nghiệp nhà nước và ảnh hưởng rất ít ñến khu vực tư nhân.
ðến năm 1957 Ủy ban duyệt xét lại Tổng hoạch ñồ kế toán 1947 ñể ñưa ra Tổng hoạch ñồ 1957. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tổng hoạch ñồ kế toán 1957 ñã bộc lộ nhiều nhược ñiểm, như chưa ñề cập ñến báo cáo tài chính hợp nhất hay phương pháp ñánh giá trong nền kinh tế lạm phát. Do vậy, Uỷ ban ñã duyệt xét lại lần nữa những vấn ñề còn tồn tại và cho ra ñời Tổng hoạch ñồ cải cách vào năm 1982. ðến năm 1986, Tổng hoạch ñồ ñược hiệu ñính ñể thi hành chỉ thị của Liên minh Châu Âu và tồn tại cho ñến ngày nay.
Hệ thống kế toán Pháp bao gồm: hệ thống tài khoản kế toán thống nhất với những ký hiệu mã số cụ thể cho từng tài khoản, những quy ñịnh cụ thể cho viêc ñánh giá và xác ñịnh lợi nhuận, các mẫu biểu báo cáo, các yêu cầu về báo cáo tài chính hợp nhất. Tất cả ñược thể hiện trong tổng hoạch ñồ kế toán. Luật kế toán mới ban hành năm 1983. Tại Anh, trong Luật công ty năm 1948 ñã ñưa ra những nhóm tài khoản bắt buộc, ñưa ra những yêu cầu về việc lập báo cáo tài chính theo nguyên tắc “trung thực và hợp lý” thể hiện ở ñiều 4, mục 4A.