CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệ m và bả n chấ t tài chính doanh nghiệ p 1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển tự do của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh và đào thải ngày càng gay gắt hơn.
Sự cạnh tranh tạo ra áp lực rất lớn buộc các doanh nghiệp phải luôn thay đổi và hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là trong việc sử dụng nguồn tài chính của doanh nghiệp. Trong tài chính, có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ tài chính doanh nghiệp. Tương tự, tác giả Dương Hữu Hạnh (2009) cho rằng, về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp [2].
Đồng quan điểm, theo hai tác giả Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2008), tài chính doanh nghiệp là một hệ thống các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt đến những mục tiêu nhất định. Tài chính doanh nghiệp gắn liền với quá trình phân phối dưới hình thức giá trị để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, đồng thời thể hiện bản chất của tài chính doanh nghiệp [1]. 5 Một cách cụ thể hơn, Nguyễn Minh Kiều (2009) cho rằng, tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp gắn liền với các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp [5]. Như vậy, các khái niệm về tài chính doanh nghiệp tuy có khác nhau giữa các tác giả, nhưng đều đưa đến một sự thống nhất chung, tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Bản chất tài chính doanh nghiệp Bản chất tài chính doanh nghiệp là thể hiện sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với các mối quan hệ kinh tế, được thể hiện dưới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể tham gia trong nền kinh tế. Một cách cụ thể, theo Nguyễn Minh Kiều (2009), các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp được chia thành bốn nhóm [5]: - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và hệ thống tài chính: quan hệ này thể hiện thông qua việc tìm kiếm các nguồn tài trợ và huy động vốn của doanh nghiệp với hệ thống tài chính trong một nền kinh tế. Doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn thông qua hai kênh truyền dẫn vốn khác nhau, tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp. Với kênh tài chính gián tiếp, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thông qua các tổ chức trung gian tài chính, mà điển hình là các ngân hàng thương mại.
Với kênh tài chính trực tiếp, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thông qua các thị trường tài chính, bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ra công chúng và thu về nguồn vốn cần huy động. 6 TÀI CHÍNH GIÁN TIẾP VỐN Các tổ VỐN Người tiết kiệm chức Người vay tiền - Hộ gia đình trung - Hộ gia đình (vay - Hộ gia đình gian tài nợ) thông qua quỹ chính - Doanh nghiệp (vay đầu tư, quỹ nợ, vốn cổ phần, thuê lương hưu, bảo VỐN mua) hiểm - Chính phủ (vay nợ - Doanh dưới hình thức trái nghiệp VỐN Các trị VỐN phiếu) - Chính phủ trường - Nước ngoài (vay - Nước ngoài tài nợ, vốn cổ phần) chính TÀI CHÍNH TRỰC TIẾP Hình 1.1: Hệ thống tài chính trong nền kinh tế (Nguồn: Nguyễn Minh Kiều, 2009 [5]) - Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và ngân sách nhà nước phát sinh khi doanh nghiệp thể hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với nhà nước như nộp thuế, nộp phí và lệ phí khi doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ công từ các cơ quan quản lý nhà nước. Theo chiều ngược lại, doanh nghiệp có thể nhận được nguồn vốn từ những khoản đóng góp từ nhà nước dưới hình thức thành lập các liên doanh hoặc các khoản trợ cấp, trợ giá mà nhà nước dành cho doanh nghiệp.
- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ và thị trường lao động. Quan hệ tài chính phát sinh khi doanh nghiệp mua nguyên vật liệu, trang thiết bị, máy móc v.v… phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời, quan hệ tài chính cũng phát sinh khi doanh nghiệp tiêu thụ các hàng hóa, sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp cho khách hàng của mình. - Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp thể hiện thông qua mối quan hệ giữa các bộ phận kinh doanh, giữa các cổ đông và người quản lý, giữa quyền sử dụng vốn.
Quan hệ tài chính phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện chính sách phân chia cổ 7 tức (phân phối lợi nhuận), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn hay chính sách về lương bổng, chế độ phúc lợi v. trong công ty. Như vậy, tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bởi sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng là phương tiện thanh toán và cất trữ trong quá trình tạo lập cũng như sử dụng các quỹ tiền tệ cho những sức mua nhất định của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Chứ c năng tài chính doanh nghiệ p 1.
Chức năng phân phối Thuật ngữ phân phối được sử dụng trong khái niệm về tài chính học được hiểu theo nghĩa chung là phân phối tài sản, của cải giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội với nhau. Phân phối của cải, tài chính là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo sự thay đổi của hình thái giá trị. Nghĩa là, thông qua chức năng phân phối của tài chính, các quỹ tiền tệ được hình thành hoặc được sử dụng cho những mục đích khác nhau nhưng bản chất của tài chính thì không thay đổi [5]. Đối với tài chính doanh nghiệp, chức năng phân phối được thể hiện ở hai nội dung: huy động hay tạo nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó vào các hoạt động của doanh nghiệp.
Cụ thể hơn: - Việc đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính. - Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh. - Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần cải thiện lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Sử dụng đòn bẫy kinh doanh và đòn bẫy tài chính hợp lý là yếu tố làm gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
- Huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay và giảm được tiền lãi, góp phần tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Chức năng giám đốc Chức năng giám đốc của tài chính doanh nghiệp thể hiện thông qua việc sử dụng công cụ tiền tệ để đo lường, hạch toán, tính toán, xác định và phân tích các chỉ tiêu kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ đó có thể nhận biết một cách kịp thời các hiện tượng tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực và có biện pháp quyết định xử lý phù hợp [5]. Bên cạnh đó, chức năng giám đốc của tài chính còn là quá trình thực hiện kiểm soát và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Chức năng giám đốc của tài chính thể hiện khả năng giám sát tính hiệu quả của quá trình phân phối.
Vai trò củ a tài chính doanh nghiệ p 1. Khai thác, thu hút các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn cho đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, vốn được xem là tài sản, là yếu tố đầu vào cơ bản và quan trọng nhất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một tổ chức nào. Doanh nghiệp muốn hoạt động thì phải có vốn và tạo ra vốn là nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp. Nói cách khác, tài chính doanh nghiệp có vai trò tìm kiếm, khai thác và thu hút các nguồn lực tài chính (chủ yếu là vốn tiền tệ và các tài sản khác) trong xã hội thông qua các kênh tài chính gián tiếp và tài chính trực tiếp như phát hành trái phiếu, cổ phiếu, thuê tài chính hoặc vay ngân hàng … để đáp ứng nhu cầu đầu tư, sử dụng của doanh nghiệp.
Sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Việc sử dụng vốn làm phát sinh chi phí sử dụng vốn và nghĩa vụ bảo toàn, hoàn trả vốn. Trong điều kiện khan hiếm, sử dụng vốn cho hạng mục đầu tư nào là vấn đề cực kỳ quan trọng. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò tích cực trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả. Sử dụng vốn tiết kiệm nghĩa là không để nguồn vốn nhàn rỗi, không để vốn bị chiếm dụng một cách vô ích.
Sử dụng vốn có hiệu quả là ưu tiên sử dụng vốn vào các hạng mục hoặc dự án đầu tư có khả năng sinh lợi cao, an toàn và thu hồi vốn càng sớm càng tốt. Đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện pháp tăng quay vòng vốn, tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối đa 9 hóa lợi nhuận là những nhiệm vụ quan trọng của tài chính doanh nghiệp để thể hiện vai trò sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả. Kích thích, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ tài chính của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú.