chương I) đã phân chia các nghiệp vụ bảo hiểm thành 2 nhóm, gồm 18 nghiệp vụ: - Nhóm 1: Bảo hiểm nhân thọ bao gồm 6 nghiệp vụ: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ và các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác. - Nhóm 2: Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm 12 nghiệp vụ: Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người; bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường hàng không; bảo hiểm hàng không; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nổ; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; Bảo hiểm trách nhiệm chung; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; bảo hiểm nông nghiệp và các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác. Phân loại theo kỹ thuật quản lý nghiệp vụ Theo tiêu thức này, các nghiệp vụ bảo hiểm được phân thành 2 loại sau: - Các nghiệp vụ bảo hiểm được quản lý theo kỹ thuật phân chia: Kỹ thuật phân chia được hiểu là doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm cho một niên độ và sử dụng vào việc bồi thường cho những thiệt hại xảy ra trong niên độ, phí bảo hiểm không đưa vào tích luỹ để trả lại cho người được bảo hiểm vào thời điểm kết thúc hợp đồng. Nếu hợp đồng bảo hiểm chưa kết thúc hiệu lực vào cuối năm tài chính, thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phân bổ một phần phí bảo hiểm tương ứng với thời gian hiệu lực còn lại cho năm tài chính sau để bồi thường cho những rủi ro có thể xảy ra.
Đây chính là cơ sở quan trọng của việc hình thành các khoản dự phòng nghiệp vụ. 10 Kỹ thuật phân chia được áp dụng cho các hợp đồng ngắn hạn, rủi ro ổn định trong suốt thời hạn của hợp đồng bảo hiểm. Như vậy, các nghiệp vụ được quản lý theo kỹ thuật phân chia chủ yếu là các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. - Các nghiệp vụ bảo hiểm được quản lý theo kỹ thuật tồn tích: Kỹ thuật tồn tích là kỹ thuật quản lý đặc thù của bảo hiểm nhân thọ (những nghiệp vụ bảo hiểm dài hạn).
Kỹ thuật này dựa trên việc tích luỹ các khoản phí tiết kiệm (một phần phí bảo hiểm) được xác định bằng phương pháp toán học để nhằm thực hiện các cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng. Những khoản phí bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trên thị trường vốn và các khoản lãi thu dưới hình thức số tiền bảo hiểm hoặc các khoản trợ cấp định kỳ cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc khi người thụ hưởng sống đến một thời điểm quy định. Với kỹ thuật tồn tích vốn, các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ dài hạn đã tạo ra sự tích tụ các nguồn vốn to lớn để tài trợ cho nền kinh tế. Hoạt động đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích đảm bảo thực hiện các cam kết của mình.
Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu nguyên tắc, phương pháp kế toán phản ánh sự hình thành và sử dụng các khoản dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm. Phân loại nghiệp vụ theo tính chất bảo hiểm Theo tiêu thức này, các nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm được phân thành hai nhóm: - Nhóm bảo hiểm tự nguyện: Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm mà hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo ý nguyện của bên mua bảo hiểm và dựa trên nguyên tắc thoả thuận. Đại bộ phận các nghiệp vụ bảo hiểm thuộc loại bảo hiểm tự nguyện. - Nhóm bảo hiểm bắt buộc: Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm mà pháp luật có quy định về nghĩa vụ tham gia bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân có mối quan hệ nhất định với loại đối tượng bắt buộc phải được bảo hiểm.
Các nghiệp vụ bảo hiểm được triển khai theo quy định của luật pháp. Đặc điểm kinh doanh bảo hiểm 1. Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Đặc trưng cơ bản của hợp đồng bảo hiểm là: - Bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm trước khi xảy ra các sự kiện được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm đã quy định trong hợp đồng.
- Hợp đồng bảo hiểm được thiết lập để bảo hiểm cho các sự kiện không chắc chắn, doanh nghiệp bảo hiểm có thể sẽ phải chi trả tiền nếu rủi ro xảy ra và không phải chi trả tiền nếu rủi ro không xảy ra. Bên mua bảo hiểm thường phải đóng phí bảo hiểm ngay khi ký kết hợp đồng còn doanh nghiệp bảo hiểm chỉ thực hiện chi trả tiền khi xảy ra rủi ro. Do đó, chu trình kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm phải thu tiền trước, chi trả sau và được gọi là chu trình kinh doanh đảo ngược. Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản và bằng chứng giao kết của hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, tiêm, da và các hình thức khác theo quy định.
Theo thời hạn, hợp đồng bảo hiểm có 2 loại: Hợp đồng ngắn hạn và hợp đồng dài hạn. Thời hạn của hợp đồng bảo hiểm chi phối nguyên tắc xác định doanh thu, chi phí, nợ phải trả, nguồn vốn nhàn rỗi của từng hợp đồng bảo hiểm. Đặc điểm hoạt động kinh doanh, tài chính * Kinh doanh bảo hiểm là một ngành dịch vụ Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm chủ yếu có 2 loại: kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư, trong đó kinh doanh bảo hiểm bao gồm 3 loại hoạt động là bảo hiểm gốc, nhận tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm. - Kinh doanh bảo hiểm gốc: Là việc doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ bảo hiểm trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.
- Kinh doanh nhận tái bảo hiểm: Là việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm nhận một phần hay toàn bộ rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm khác. 12 - Kinh doanh nhượng tái bảo hiểm: Là việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chuyển một phần hay toàn bộ rủi ro đã nhận bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác. Cụ thể, sau khi ký hợp đồng trực tiếp với bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm gốc có thể phải ký hợp đồng tái bảo hiểm, chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm và phí bảo hiểm cho các doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm. Khi có tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm sẽ bồi thường lại cho doanh nghiệp bảo hiểm gốc một phần tổn thất tương ứng với phần trách nhiệm đã nhận.
Do nhu cầu bảo hiểm đa dạng với những đối tượng bảo hiểm có giá trị lớn với rủi ro nguy hiểm; thực tế có khả năng xảy ra thiệt hại hết sức lớn, thậm chí không xác định trước được giá trị thiệt hại tối đa có thể, trong khi đó khả năng tài chính của từng doanh nghiệp bảo hiểm dù mạnh đến mấy, cũng bị khống chế ở một mức độ nhất định và rất khó co dan trước nhu cầu rất khác nhau đó. Từng doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động đơn độc khó có thể đáp ứng được những trường hợp vượt quá khả năng tài chính cho phép. Do đó, tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm là những nghiệp vụ không thể thiếu được trong kinh doanh bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm phải phối hợp hoạt động để thoả mãn tối đa nhu cầu bảo hiểm của xã hội. Hoạt động bảo hiểm ngày càng được phát triển mạnh mẽ và được triển khai rộng khắp trên tất cả mọi lĩnh vực, ngay từng lĩnh vực lại có nhiều nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm khác nhau.
Đặc điểm này chi phối có tính chất quyết định đến toàn bộ công tác kế toán bảo hiểm. Cụ thể doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh bảo hiểm phải hạch toán chi tiết theo từng loại hoạt động: Bảo hiểm gốc, nhận tái bảo hiểm, tái bảo hiểm, trong từng loại hoạt động phải hạch toán chi tiết theo từng nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm 13 Người được bảo hiểm rủi ro Hợp đồng ` bảo hiểm Người bảo hiểm gốc (Người nhượng tái bảo hiểm) Hợp đồng tái bảo Người nhận Người nhận Đối tượng khác Người nhận tái bảo hiểm (Người nhận chuyển nhượng tái bảo hiểm) Sơ đồ 1. 1: Sơ đồ về quan hệ giữa ba loại bảo hiểm * Chu trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Chu trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngược với chu trình sản xuất kinh doanh thông thường, trong đó doanh nghiệp bảo hiểm bán "Lời cam kết", phí bảo hiểm được thu trước và chi bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm được thực hiện sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Đặc điểm này tạo ra một khối lượng tiền nhàn rỗi trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm từ khi thu phí cho đến khi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường bảo hiểm.
Do vậy, doanh nghiệp bảo hiểm đã trở thành những nhà đầu tư lớn, quan trọng của nền kinh tế quốc doanh. Nó không chỉ đóng vai trò của một công cụ an toàn mà còn có vai trò của một trung gian tài chính quan trọng của nền kinh tế. Mặt khác, hoạt động kinh doanh bảo hiểm dựa trên "quy luật số lớn"; quy luật số lớn ở đây được hiểu không chỉ là số đông các rủi ro thuộc một sản phẩm bảo 14 hiểm mà còn là số đông rủi ro của nhiều loại sản phẩm bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành. Vì vậy, hoạt động kinh doanh bảo hiểm thực chất là thiết lập một quỹ phí bảo hiểm từ sự đóng góp của các bên mua bảo hiểm.
Quỹ này có quy mô lớn hơn rất nhiều quỹ dự trữ do các cá nhân đơn lẻ lập ra và có khả năng đáp ứng các nhu cầu tài chính to lớn phát sinh do xảy ra các rủi ro có mức độ thiệt hại tài chính nghiêm trọng. * Đặc điểm hoạt động tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Do thời gian thu phí bảo hiểm và chi bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm tách rời nhau, thậm chí cách xa nhau hàng chục năm đối với kinh doanh bảo hiểm nhân thọ. Từ đó tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi rất lớn trong các doanh nghiệp bảo hiểm.