CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1.1 Tình hình đầu tư xây dựng trong nước và trong khu vực nghiên cứu 1.1 Tình hình đầu tư xây dựng trong nước Giai đoạn 2011-2015, để khắc phục những bất cập trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư theo phương thức cũ, việc tái cơ cấu đầu tư, đặc biệt là Luật Đầu tư công đã được thông qua. Qua hơn 3 năm thực hiện, quá trình tái cơ cấu đầu tư công bước đầu đã có chuyển biến tích cực, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng giảm dần. Một trong những văn bản quan trọng nhất của việc thể chế hóa đầu tư công thời gian qua là Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 18/6/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015. Đây là văn bản pháp lý quan trọng được coi là tạo điều kiện cho việc thực hiện quá trình tổng thể tái cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu nền kinh tế.1 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2006-2015 Bên cạnh đó, nhiều thể chế quan trọng khác được ban hành liên quan tới việc định hướng đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, chuẩn bị đầu tư, phê duyệt đầu tư và thực hiện, giám sát đầu tư.
3 Cùng với việc quản lý chặt chẽ đầu tư công, khu vực kinh tế tư nhân cũng được khuyến khích mở rộng phát triển. Về cơ bản, các chính sách đã góp phần bước đầu khắc phục tình trạng bố trí vốn phân tán, dàn trải, thất thoát lãng phí; nâng cao hiệu quả đầu tư. Xét về cơ cấu vốn đầu tư, tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước đã giảm dần từ 59,1% (năm 2000) xuống còn 33,9% (năm 2008) và tăng nhẹ trở lại lên mức 40,4% năm 2013 và 38% năm 2015 nhằm duy trì ổn định và phát triển kinh tế khi khu vực đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài gặp nhiều khó khăn, nhu cầu tăng thấp do chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế. Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng nhanh (khoảng 16 điểm % từ năm 2001 đến 2015), nguyên nhân chủ yếu là do việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước; nhiều cơ sở mở rộng sản xuất kinh doanh và thành lập mới.
Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không ổn định nhưng nhìn chung có xu hướng tăng dần. Trong đó, đáng chú ý, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, vốn FDI giải ngân giai đoạn 2011-2015 vẫn duy trì ở mức khoảng 10,5-12 tỷ USD (trong đó năm 2015 đã tăng mạnh lên mức 14,5 tỷ USD).2 Cơ cấu tổng vốn đầu tư phát triển theo khu vực kinh tế (%) 4 Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước vẫn ở mức cao (bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt khoảng 39,1%). Trong đó, vốn từ NSNN tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất. Riêng năm 2015, vốn từ NSNN tăng cao hơn so với các năm trước do tính bổ sung thêm 30.000 tỷ đồng giai ngân vốn nước ngoài nguồn ngân sách nhà nước theo các hiệp định đã ký kết với các nhà tài trợ và tiến độ thực hiện.
Vốn tín dụng nhà nước cũng tăng nhanh trong những năm gần đây.3 Vốn đầu tư thực hiện của khu vực nhà nước phân theo nguồn vốn Mặt khác, tình trạng đầu tư dàn trải vẫn chưa có giải pháp khắc phục triệt để: năm 2010, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương phân bổ vốn ngân sách nhà nước cho tổng số 16.658 dự án với số vốn bình quân phân bổ cho dự án là gần 7 tỷ đồng; vốn bình quân phân bổ cho dự án nhóm A ở trung ương năm 2010 xấp xỉ 115 nghìn tỷ đồng. Đến năm 2011, quy mô trung bình một dự án đầu tư là 11 tỷ đồng/dự án; năm 2012 tăng lên là 17 tỷ đồng dự án. Tình trạng đầu tư phong trào, rập khuôn của nhiều ngành, địa phương vẫn diễn ra phổ biến và không thực sự chú trọng tới hiệu quả lợi thế so sánh của địa phương. Hiệu quả đầu tư vẫn còn thấp, thể hiện qua chỉ số ICOR vẫn tiếp tục tăng và ở mức cao.1 ICOR của một số nước trong khu vực Quốc gia 2001-2005 2006-2010 2011-2013 Trung Quốc 4,14 6,27 11,84 Ấn Độ 4,23 6,37 8,88 Indonesia 4,57 7,97 11,75 Lào 2,90 5,94 5,05 Malaysia 10,75 1,26 7,85 Philipine 5,17 7,85 6,58 Việt Nam 4,33 8,31 9,20 Nguyên nhân làm cho ICOR của Việt Nam cao một phần là do Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung đầu tư cho hạ tầng cơ sở, bao gồm cả hạ tầng cơ sở ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.
Nhưng mặt chủ quan vẫn là cơ chế quản lý đầu tư xây dựng lỏng lẻo, lãng phí nghiêm trọng, quy hoạch đầu chưa hợp lý… chính vì vậy, so với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng như Việt Nam thì hệ số ICOR của Việt Nam hiện nay vẫn ở ngưỡng cao.2 Tình hình đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Trong những năm qua, công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh đã chấp hành theo các quy định của nhà nước về quản lý dự án đầu tư, bám sát theo Nghị quyết, kế hoạch phát triển KT-XH của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân tỉnh. Tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, công trình giáo dục, y tế, an sinh xã hội nhằm tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho phát triển KT-XH; tập trung cho đầu tư phát triển các lĩnh vực thế mạnh của tỉnh như du lịch, văn hóa, phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đô thị văn minh. Tỉnh đã có những giải pháp đột phá, thay đổi về tư duy, cách làm giúp cho công tác quản lý, điều hành, thực hiện về lĩnh vực đầu tư xây dựng và có bước chuyển biến cơ bản, nhất là sau khi có chỉ thị 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Phân cấp quyết định đầu tư được thực hiện mạnh mẽ và quyết liệt gắn với phân cấp, phân quyền và phân trách nhiệm.
Xác định đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; bố trí vốn đầu tư tập trung, cơ cấu vốn đầu tư được điều chỉnh hợp lý. Đặc biệt với những cải cách mạnh mẽ trong quản lý, tỉnh đã chặn 6 đứng việc phát sinh nợ đọng trong xây dựng cơ bản, nhiều vấn đề tồn tại từ những năm trước như đầu tư xây dựng dàn trải, phê duyệt dự án tràn lan. đã được giải quyết, từ đó nâng cao chất lượng quản lý của nhà nước về đầu tư xây dựng của tỉnh. Tỉnh đã tập trung đầu tư nhiều công trình thuộc hạ tần khung đô thị, công trình xã hội tạo điểm nhấn cho đô thị,.
với cách làm mới nhiều công trình rút ngắn được thời gian thi công, hiệu quả đầu tư được nâng lên. - Công tác chuẩn bị đầu tư đã có những chuyển biến mạnh mẽ, nhiều dự án chuẩn bị đầu tư mới, chưa thực sự cấp thiết được dừng thực hiện nhằm tập trung nguồn vốn cho trả nợ. Số dự án chuẩn bị đầu tư giảm mạnh, đã tạm dừng chuẩn bị đầu tư 82 dự án với tổng mức đầu tư 6,54 ngàn tỷ đồng (gần 40% tổng mức đầu tư được duyệt). Tập trung vào những dự án trọng điểm.
Cụ thể năm 2015 tỉnh bố trí 1.050 tỷ đồng để quyết toán cho 7 công trình và triển khai xây dựng 18 công trình trọng điểm, đây là số vốn bố trí cao nhất cho các dự án trọng điểm trong 5 năm qua. Tổng giá trị ngành xây dựng năm 2015 theo giá hiện hành ước đạt 8.572 tỷ đồng, tăng 8,26%; theo giá so sánh đạt 6.680 tỷ đồng, tăng 5,10% so với năm 2014. - Công tác thẩm định dự án có nhiều tiến bộ. Số lượng dự án do UBND tỉnh phê duyệt giai đoạn 2011-2014 là 617 dự án, với tổng mức đầu tư 16,3 ngàn tỷ đồng thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2006 – 2010 (chỉ bằng 49% về dự án và bằng 59% về tổng mức đầu tư).
- Công tác đấu thầu được các cấp các ngành quan tâm. 100% kế hoạch lựa chọn nhà thầu được thẩm định đúng thời hạn trong đó có trên 90% xong trước quy định. Việc phân chia gói thầu và xác định thời gian lựa chọn nhà thầu được cải tiến, thực hiện nghiêm túc theo Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 28/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ.[2] - Bồi thường giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch phục vụ thu hút đầu tư và đáp ứng yêu cầu về tiến độ thực hiện dự án được UBND tỉnh tập trung chỉ đạo và các cấp các ngành tổ chức triển khai tích cự. Tỉnh đã thành lập ban GPMB và Phát triển quỹ đất chuyên trách ở cấp tỉnh và cấp huyện, đồng thời thành lập Quỹ phát triển đất với số vốn điều lệ ban đầu là 300 tỷ đồng, hàng năm được bổ sung từ 30 – 50 tỷ đồng nhằm đáp ứng các yêu cầu phải GPMB nhanh.
Giai đoạn 2011 – 2015 tỉnh đã dành 460 tỷ 7 đồng để giải phóng mặt bằng, mở rộng các trường học với diện tích 220 ha nhằm đáp ứng nhu cầu đạt chuẩn Quốc gia. Nhiều dự án trong giai đoạn trước gặp khó khăn về BT-GPMB đến nay đã được giải quyết xong. - Công tác phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện tốt, bám sát các chỉ đạo của Chính phủ nhất là chỉ thi 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 và đảm bảo đủ cơ cấu vốn đầu tư cho Giáo dục – Đào tạo và Khoa học – Công nghệ. Vốn đầu tư được phân bổ với cơ cấu hợp lý (30% trọng điểm, 30% thanh toán nợ và 40% chuyển tiếp và mới), tập trung hơn (số dự án giao kế hoạch đầu năm và dự án mới giảm dần, số dự án hoàn thành tăng lên) nhằm vừa tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, vừa giải quyết nợ XDCB theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời vẫn tiếp tục đầu tư phát triển.
Việc phân bổ vốn được triển khai kịp thời, công khai, minh bạch theo đúng nguyên tắc, tiêu chí và định mức quy định tại Nghị quyết số 24/2010/NQ-HĐND ngày 22/12/2010 của HĐND tỉnh. Khối lượng thực hiện và giải ngân hàng năm đều đạt trêm 90% kế hoạch được giao. - Công tác quyết toán vốn đầu tư chuyển biến tích cực. Tỉnh ủy đã chỉ đạo quyết liệt trong việc xử lý Chủ đầu tư, nhà thầu chậm quyết toán.