CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 1. Khái niệm, phân loại Thương mại dịch vụ và các phương thức cung cấp dịch vụ theo Hiệp định GATS 1.1 Khái niệm, phân loại Thương mại dịch vụ theo GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (tên tiếng Anh là General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) là một hiệp định thuộc hệ thống WTO, ra đời năm 1995, quy định các nguyên tắc về thương mại dịch vụ. Hiệp định GATS chỉ quy định các nghĩa vụ đối với chính phủ các quốc gia thành viên, GATS không quy định quyền lợi hay nghĩa vụ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp lại được hưởng lợi hoặc chịu tác động của Hiệp định này thông qua việc Chính phủ các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ trong GATS khi ban hành chính sách, quy định về thương mại dịch vụ ở nước mình.
GATS điều chỉnh tất cả các loại dịch vụ trừ : (a) Các dịch vụ của Chính phủ (ví dụ các chương trình an sinh xã hội và các dịch vụ công cộng khác như y tế, giáo dục. được cung cấp dựa trên các điều kiện phi thị trường). Những dịch vụ này được cung cấp không trên cơ sở thương mại và không cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ khác; (b) Một số dịch vụ thuộc lĩnh vực vận tải hàng không (ví dụ, quyền lưu không và các dịch vụ liên quan trực tiếp đến quyền lưu không). GATS không có định nghĩa chính thức về dịch vụ, Hiệp định GATS cũng không có quy định chính thức về cách thức phân loại dịch vụ.
Tuy nhiên Ban thư ký WTO đã chia các hoạt động dịch vụ thành 12 ngành với 155 phân ngành: Bảng 1.1 – Các ngành dịch vụ theo phân loại của Ban thư ký WTO Stt Ngành dịch vụ Mô tả chung 1. Dịch vụ kinh doanh Bao gồm các dịch vụ chuyên môn: Dịch vụ pháp lý Dịch vụ kế toán, kiểm toán Dịch vụ kiến trúc Dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Stt Ngành dịch vụ Mô tả chung quan Dịch vụ khác 2. Dịch vụ thông tin Bao gồm: Dịch vụ chuyển phát Dịch vụ viễn thông Dịch vụ nghe nhìn 3. Dịch vụ xây dựng 4.
Dịch vụ phân phối Bao gồm : Dịch vụ đại lý hoa hồng Dịch vụ bán buôn Dịch vụ bán lẻ Dịch vụ nhượng quyền thương mại 5. Dịch vụ giáo dục Bao gồm: Dịch vụ giáo dục phổ thông cơ sở Dịch vụ giáo dục bậc cao Dịch vụ giáo dục cho người lớn Các dịch vụ giáo dục khác 6. Dịch vụ môi trường Bao gồm: - Dịch vụ xử lý nước thải, xử lý rác thải và các dịch vụ khác 7. Dịch vụ tài chính Bao gồm: Dịch vụ bảo hiểm Dịch vụ ngân hàng Dịch vụ chứng khoán 8.
Dịch vụ y tế Bao gồm: Dịch vụ bệnh viện Dịch vụ nha khoa Các dịch vụ y tế khác 9. Dịch vụ du lịch Bao gồm: Dịch vụ khách sạn và nhà hàng Dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Stt Ngành dịch vụ Mô tả chung tour du lịch Các dịch vụ du lịch khác 10. Dịch vụ văn hóa, giải trí và thể thao 11. Dịch vụ vận tải Bao gồm: Dịch vụ vận tải biển Dịch vụ vận tải đường bộ Dịch vụ vận tải đường sắt Dịch vụ vận tải đường thủy Dịch vụ hàng không Các dịch vụ hỗ trợ vận tải 12.
Các dịch vụ khác 1. Phương thức cung cấp dịch vụ theo Hiệp định GATS: Điều 1 của GATS đưa ra 4 Phương thức cung cấp dịch vụ sau: “(a) từ lãnh thổ của một Thành viên sang lãnh thổ của một Thành viên khác (Phương thức 1 - thương mại qua biên giới) (b) trong lãnh thổ của một Thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của một Thành viên khác (Phương thức 2 - tiêu dùng nước ngoài) (c) bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên, thông qua hiện diện thương mại, trong lãnh thổ của một Thành viên khác (Phương thức 3 - hiện diện thương mại), và (d) bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên, thông qua hiện diện của thể nhân của một Thành viên tại lãnh thổ của một Thành viên khác (Phương thức 4 - hiện diện thể nhân)” [32, trg 3]. Khái niệm, phân loại và đặc điểm của Thương mại dịch vụ theo Pháp luật Việt Nam 1.Khái niệm Thương mại dịch vụ theo pháp luật Việt Nam Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ. Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra 3 khu vực chính, đó 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Theo Hệ thống thống kê toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung ứng điện và nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành. Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm 1 tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao. Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể. Thương mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ.
Trong ngành thương mại có ba lĩnh vực chính, đó là thương mại hàng hóa, thương mại đầu tư và thương mại dịch vụ trong đó thương mại dịch vụ là hoạt động mua bán các loại dịch vụ. Hệ thống pháp lý của Việt Nam bao gồm rất nhiều các văn bản pháp lý phức tạp liên quan đến thương mại dịch vụ - từ Luật, Pháp lệnh của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đến Nghị định, Quyết định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Thông tư và thậm chí là các Quyết định của các Bộ. Các văn bản pháp luật liên quan đến nhiều lĩnh vực áp dụng khác nhau, bao gồm không chỉ thương mại dịch vụ và đầu tư nước ngoài, cạnh tranh, xuất cảnh, nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài ở Việt Nam. Các văn bản pháp lý đặc biệt chỉ điều chỉnh một vài ngành dịch vụ cụ thể, ví dụ Luật Bảo hiểm, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông.
Luật Thương mại (Điều 3 khoản 9) đưa ra định nghĩa về “cung cấp dịch vụ” trong hệ thống luật của Việt Nam. Cung cấp dịch vụ bao gồm các hoạt động thương mại trong đó một bên (dưới đây gọi là nhà cung cấp dịch vụ) cung cấp một dịch vụ cho một bên khác và nhận được tiền thanh toán. Bên sử dụng dịch vụ (dưới đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ phải trả cho nhà cung cấp dịch vụ và có quyền sử dụng dịch vụ mà hai bên thống nhất. Điều 75 của Luật Thương mại đề cập các Phương thức cung cấp dịch vụ như sau: “1.
Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền cung ứng dịch vụ sau đây: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; b) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam; c) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài; d) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài. Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền sử dụng dịch vụ sau đây: a) Sử dụng dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; b) Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam; c) Sử dụng dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài; d) Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài.” Mặc dù định nghĩa này không thể hiện được quan điểm tại Điều 1 GATS về đàm phán cam kết tiếp cận thị trường đối với các dịch vụ được cung cấp theo thẩm quyền của Chính phủ nhưng định nghĩa này nhìn chung phù hợp với định nghĩa tại Điều 1. Định nghĩa pháp lý về thương mại dịch vụ nêu trên không tạo nên bất kỳ quyền lợi hoặc nghĩa vụ nào trong Hiệp định GATS mà các thành viên có thể phải thực hiện. Hệ thống pháp lý của Việt Nam về cơ bản đã tuân theo định nghĩa về thương mại dịch vụ của GATS và cách thức phân chia 04 Phương thức cung cấp dịch vụ theo GATS.
Trên thực tế, định nghĩa này cũng được sử dụng trong hầu hết các hiệp định thương mại song phương và khu vực, bao gồm Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Phân loại Thương mại dịch vụ theo pháp luật Việt Nam Pháp luật Việt Nam phân loại thương mại dịch vụ 12 ngành và 155 phân ngành dịch vụ như cách phân chia của Hiệp định GATS. Có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc… nhưng có những ngành mới xếp vào vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động đoàn thể xã hội. Như vây, phân loại Thương mại dịch vụ theo pháp luật Việt Nam về cơ bản giống với cách phân loại thương mại dịch vụ của Hiệp định GATS.
Từ việc tương đồng về phân loại này là tiền đề cho Việt Nam cam kết mở cửa thị trường từng ngành, phân ngành dịch vụ theo danh mục phân loại Thương mại dịch vụ của WTO và là cơ sở để Việt Nam xây dựng hệ thống pháp luật về Thương mại dịch vụ cho phù hợp với quy định của Hiệp định GATS.3 Đặc điểm của Thương mại dịch vụ Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không sờ mó, nhìn thấy được nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng.