Chương 1: Những nội dung cơ bản của tự do hoá thƣơng mại dịch vụ trong khuôn khổ WTO - Chương 2: Cam kết tự do hoá thƣơng mại dịch vụ và sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách thƣơng mại dịch vụ của Việt Nam - Chương 3: Quá trình điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống chính sách thƣơng mại dịch vụ của Việt Nam theo yêu cầu của WTO 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang CHƢƠNG 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG KHUÔN KHỔ WTO 1. Khái niệm về Thƣơng mại dịch vụ 1. Thương mại dịch vụ và dịch vụ thương mại a) Dịch vụ là gì? Các hoạt động dịch vụ đang phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng với điều đó, dịch vụ và những vấn đề liên quan đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc nêu ra một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ngay cả Hiệp định chung về Thƣơng mại dịch vụ (Tiếng anh là General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới WTO cũng không nêu khái niệm về Dịch vụ mà chỉ liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn và 155 phân ngành khác nhau nằm trong phạm vi điều chỉnh của Hiệp định.
Cuốn “Balance of Payment Manual” fifth edition- BPM5 của IMF hƣớng dẫn cách phân loại và thống kê số liệu về xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ đã liệt kê dịch vụ thành 3 nhóm lớn là vận tải, du lịch và các dịch vụ thƣơng mại khác. Mỗi nhóm này lại đƣợc chia thành các mục nhỏ hơn. Qua nghiên cứu và tiếp cận khái niệm dịch vụ trên nhiều khía cạnh nhằm đi đến sự thống nhất về khái niệm và nội hàm của dịch vụ cho thấy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận nhƣng cách định nghĩa kinh điển dựa trên tính chất của dịch vụ là định nghĩa chuyển tải đƣợc những nội dung cơ bản và đầy đủ nhất về dịch vụ: Dịch vụ là sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm đƣợc. Định nghĩa này nêu lên đƣợc hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ.
Thứ nhất, dịch 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con ngƣời. Thứ hai, khác với hàng hoá là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình, phi vật chất và không thể lƣu trữ đƣợc. Dịch vụ không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất dƣới dạng những sản phẩm hữu hình nhƣng chúng lại tạo ra giá trị thặng dƣ do có sự khai thác sức lao động, tri thức, chất xám của con ngƣời. Dịch vụ kết tinh các hoạt động đa dạng trên các lĩnh vực nhƣ tài chính, vận tải, bảo hiểm, kiểm toán, kế toán, tƣ vấn pháp lý….
Khác với hàng hoá là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình và phi vật chất. Chính điểm khác nhau cơ bản này giữa sản phẩm hàng hoá hữu hình với sản phẩm dịch vụ vô hình đã ảnh hƣởng mạnh mẽ tới cách thức tiến hành các hoạt động thƣơng mại hàng hoá và hoạt động thƣơng mại dịch vụ ở phạm vi từng quốc gia cũng nhƣ ở phạm vi quốc tế. Vì dịch vụ là vô hình nên các quốc gia cũng đã tốn không ít công sức và thời gian để xây dựng đƣợc các quy chuẩn pháp lý điều chỉnh các hoạt động cung ứng dịch vụ nói chung và các hoạt động thƣơng mại dịch vụ nói riêng. b) Thƣơng mại dịch vụ Dịch vụ ngày càng tham gia sâu rộng vào thƣơng mại.
Điều này không chỉ xuất phát từ nhu cầu của các đơn vị sản xuất kinh doanh với mong muốn trực tiếp tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của mình trong lƣu thông mà còn xuất phát từ sự phân công lao động xã hội khiến cho dịch vụ trở thành các ngành sản xuất độc lập với sản phẩm là các dịch vụ chuyên nghiệp. Và dịch vụ đã trở thành đối tƣợng của thƣơng mại với tỷ trọng trong thƣơng mại ngày càng tăng. Thƣơng mại dịch vụ (tiếng anh là trade in services hay services trade) là khái niệm chỉ các hoạt động thƣơng mại trong lĩnh vực dịch vụ hay nói chính xác hơn, là khái niệm đƣợc dùng để nhấn mạnh khía cạnh thƣơng mại, tính chất thƣơng mại trong lĩnh vực dịch vụ. Với cách hiểu này, ngƣời ta thƣờng phân biệt thƣơng mại dịch vụ với thƣơng mại hàng hoá.
Nếu nhƣ đối tƣợng mua bán trong thƣơng mại hàng hoá là hàng hoá - các sản phẩm hữu hình thì 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang trong thƣơng mại dịch vụ, đối tƣợng mua bán lại là dịch vụ - các sản phẩm vô hình, “là những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn”[46; tr7]. Chính đặc điểm này đã làm nên sự khác biệt trong cách điều chỉnh của pháp luật quốc gia, pháp luật khu vực và thậm chí là của pháp luật quốc tế về thƣơng mại dịch vụ so với thƣơng mại hàng hoá. Các nhà kinh tế định nghĩa dịch vụ là thứ có thể mua hoặc bán nhƣng không thể cầm, nắm, nhìn thấy đƣợc. Dịch vụ không đƣợc định nghĩa trong WTO.
Trong WTO/GATS không có điều khoản nào nói rõ bản chất của thƣơng mại dịch vụ mà thƣơng mại dịch vụ đƣợc định nghĩa bằng cách liệt kê 11 ngành chính, mỗi ngành chính lại phân chia thành nhiều phân ngành nhỏ, tổng cộng là 155 phân ngành và thông qua 4 phƣơng thức cung cấp là: 1) cung cấp qua biên giới; 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ; 3) hiện diện thƣơng mại; 4) hiện diện thể nhân. c) Dịch vụ thƣơng mại Dịch vụ thƣơng mại là khái niệm chƣa có sự thống nhất, chƣa có sự chuẩn hóa và cũng ít có các tài liệu phân tích khái niệm và nội hàm dịch vụ thƣơng mại một cách hệ thống. Tuy nhiên, trong thực tế, ở một số nƣớc, nơi mà hoạt động thƣơng mại dịch vụ chƣa phát triển, ngƣời ta thƣờng hay dùng khái niệm dịch vụ thƣơng mại thay vì dùng khái niệm thƣơng mại dịch vụ (ví dụ nhƣ ở Việt Nam, tại điều 5 khoản 2 Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 1997). Và chính vì vậy, dịch vụ thƣơng mại (tiếng Anh là services in trade) đƣợc hiểu là các loại hình dịch vụ gắn liền và phục vụ cho việc mua bán hàng hoá- sản phẩm hữu hình, ví dụ nhƣ dịch vụ vận tải - giao nhận, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ giám định hàng hoá,.
Với cách hiểu nhƣ vậy, đôi khi, ngƣời ta thƣờng cho rằng dịch vụ thƣơng mại là một nhánh nhỏ, là một phân ngành nhỏ trong toàn bộ hệ thống ngành (hay hệ thống lĩnh vực) thƣơng mại dịch vụ, là một bộ phận của thƣơng mại dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với thƣơng mại hàng hóa. Để có sự phân biệt rõ hơn hai khái niệm trên, trƣớc hết cần có sự hiểu biết đầy đủ hơn về dịch vụ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang 1. Đặc điểm, cách phân loại và vai trò của thương mại dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân và trong thương mại quốc tế a) Đặc điểm của dịch vụ Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ đƣợc thừa nhận rộng rãi gồm: Thứ nhất, dịch vụ là vô hình nên khó xác định.
Quá trình sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hoá học,. nhất định, có tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa. Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dƣới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể, không cầm nắm đƣợc, không nhìn thấy đƣợc và do đó không thể xác định chất lƣợng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật đƣợc lƣợng hóa. Chính vì vậy, các công tác lƣợng hoá, thống kê, đánh giá chất lƣợng và quy mô cung cấp dịch vụ của một công ty, nếu xét ở tầm vi mô và của một quốc gia, nếu xét ở tầm vĩ mô, trở nên khó khăn hơn so với hàng hoá hữu hình rất nhiều.
Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thường xảy ra đồng thời. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lƣu thông và tiêu dùng. Do đó hàng hóa có thể đƣợc lƣu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo cung cầu của thị trƣờng. Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ.
Ví dụ, với dịch vụ tƣ vấn đầu tƣ, khi chuyên gia về đầu tƣ cung cấp dịch vụ tƣ vấn cũng là lúc ngƣời sử dụng dịch vụ tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tƣ vấn do ngƣời chuyên gia này cung ứng. Thông thƣờng, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa ngƣời cung ứng và ngƣời tiêu dùng dịch vụ. Thứ ba, dịch vụ không lưu trữ được. Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lƣu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.
Với cách hiểu đó, dịch vụ là sản phẩm không lƣu trữ đƣợc và trong cung ứng dịch vụ không có khái niệm tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dịch vụ. Đây là những đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ vô hình với sản phẩm hàng hóa hữu hình. Tuy nhiên cần phải thấy rằng sẽ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều chỉnh và hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ Lê Văn Sang không tồn tại một sự phân biệt tuyệt đối. Chẳng hạn, một số loại hình dịch vụ, khi kết thúc quá trình cung ứng sẽ tạo ra sản phẩm có hình thái vật chất nhƣ bản photocopy (đối với dịch vụ photocopy).
Hệ thống dịch vụ trả lời điện thoại tự động không đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa ngƣời cung ứng và ngƣời tiêu dùng và, về một khía cạnh nào đó, có thể coi đó là sản phẩm lƣu trữ đƣợc.