Tổng quan nghiên cứu

Quyền chuyển đổi giới tính là một trong những quyền nhân thân cơ bản, gắn liền mật thiết với phẩm giá, sự tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân. Theo ước tính từ các tổ chức xã hội dân sự, Việt Nam hiện có khoảng 300.000 đến 500.000 người chuyển giới, chiếm khoảng 0,3% đến 0,5% dân số cả nước. Dù chiếm một tỷ lệ không nhỏ, nhóm cộng đồng này vẫn đang đối mặt với vô vàn rào cản khắt khe trong đời sống dân sự, y tế, giáo dục và việc làm do hệ thống quy phạm pháp luật chưa hoàn thiện.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập giữa nhu cầu thực tế của người chuyển giới và sự thiếu hụt các quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp. Mục tiêu cốt lõi của công trình là xây dựng hệ thống luận cứ khoa học, phân tích chuyên sâu thực trạng pháp luật Việt Nam giai đoạn 2011–2017, đồng thời đối chiếu chuẩn mực nhân quyền quốc tế tại hơn 60 quốc gia để đề xuất các giải pháp khả thi.

Phạm vi nghiên cứu được xác định trọng tâm tại Việt Nam trong khung thời gian 5 năm, từ năm 2011 đến năm 2017, thời điểm ghi nhận những bước chuyển mình quan trọng về tư duy lập pháp với sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện ở việc cung cấp nền tảng lý luận toàn diện nhằm chuẩn hóa 100% quy trình pháp lý công nhận bản dạng giới, hướng tới mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt đối xử và bảo đảm bình đẳng xã hội cho hàng trăm nghìn công dân chuyển giới tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của hai học thuyết pháp lý và nhân quyền kinh điển. Thứ nhất là Thuyết quyền tự nhiên do John Locke và Jean-Jacques Rousseau khởi xướng, khẳng định quyền tự do định đoạt thân thể và sống đúng với bản chất tự nhiên là quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà không một thiết chế quyền lực nào có thể tước bỏ. Thứ hai là Thuyết bình đẳng và không phân biệt đối xử được cụ thể hóa trong các văn kiện pháp lý quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 và Bộ nguyên tắc Yogyakarta năm 2007.

Hệ thống khái niệm then chốt trong luận văn bao gồm 5 thuật ngữ cốt lõi:

  • Giới: Phản ánh các khía cạnh xã hội, tâm lý và hành vi được gán cho nam hoặc nữ.
  • Giới tính: Đặc điểm sinh học, di truyền và giải phẫu cơ thể của cá nhân khi sinh ra.
  • Bản dạng giới: Cảm nhận sâu sắc bên trong của mỗi cá nhân về giới tính của chính mình.
  • Chuyển đổi giới tính: Quá trình thay đổi thể hiện giới hoặc cấu trúc cơ thể thông qua y tế và pháp lý để phù hợp với bản dạng giới.
  • Xác định lại giới tính: Thủ tục can thiệp y khoa dành riêng cho người có khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình rõ bộ phận sinh dục theo quy định của pháp luật.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, các điều ước quốc tế, cùng các báo cáo khảo sát thực nghiệm từ Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE), Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) và Liên Hợp Quốc trên mẫu khảo sát thực tế hơn 2.000 người thuộc cộng đồng LGBT trong giai đoạn 2011–2017.

Phương pháp chọn mẫu trong các tài liệu tham chiếu sử dụng kỹ thuật chọn mẫu quả bóng tuyết (snowball sampling) kết hợp khảo sát trực tuyến diện rộng nhằm tiếp cận nhóm đối tượng vốn chịu nhiều định kiến xã hội. Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm duy vật biện chứng, phân tích quy phạm pháp luật, thống kê xã hội học và so sánh luật học. Việc kết hợp phương pháp so sánh luật học với dữ liệu khảo sát thực chứng được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc đối chiếu khung pháp lý Việt Nam với chuẩn mực lập pháp của 38 quốc gia châu Âu và một số quốc gia châu Á, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc cho các đề xuất lập pháp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nhu cầu chuyển đổi giới tính tại Việt Nam là rất lớn nhưng đang gặp phải rào cản nghiêm trọng từ thực tế. Cứ 5 người chuyển giới thì có khoảng 4 người (chiếm khoảng 80%) bày tỏ mong muốn được phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, tỷ lệ chưa thể thực hiện nguyện vọng chiếm áp đảo do nhiều nguyên nhân: 79,6% người khảo sát gặp khó khăn về điều kiện kinh tế; 51,9% bị cản trở do pháp luật chưa cho phép; 42,7% vấp phải sự phản đối gay gắt từ gia đình; 38,5% lo ngại các biến chứng sức khỏe; và 17,0% chịu áp lực từ sự kỳ thị của xã hội.

Thứ hai, tồn tại mâu thuẫn nội tại và khoảng trống kỹ thuật trong hệ thống pháp luật dân sự hiện hành. Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã mở đường ghi nhận việc chuyển đổi giới tính nhưng lại đặt ra điều kiện phải thực hiện theo quy định của một đạo luật chuyên ngành vốn chưa được ban hành. Trong khi đó, Điều 36 cùng văn bản quy định về xác định lại giới tính chỉ áp dụng cho người liên giới tính, vô hình trung tiếp tục ngăn cấm các can thiệp y tế tự nguyện của người chuyển giới. Thêm vào đó, trong 14 điều khoản thuộc Mục 2 Chương II về quyền nhân thân, có đến 13 điều khoản sử dụng chính xác từ "quyền", riêng Điều 37 chỉ dùng cụm từ "việc chuyển đổi giới tính", thể hiện sự thiếu nhất quán về mặt kỹ thuật lập pháp.

Thứ ba, sự phân hóa mạnh mẽ giữa pháp luật Việt Nam và xu hướng lập pháp tiến bộ trên thế giới. Tính đến cuối năm 2016, đã có 60 quốc gia trên thế giới chính thức hợp pháp hóa quyền chuyển đổi giới tính. Đáng chú ý, 61 quốc gia và vùng lãnh thổ đã cho phép công dân thay đổi họ tên và giới tính trên giấy tờ hộ tịch dựa trên sự tự xác định bản dạng giới mà không bắt buộc phải trải qua phẫu thuật triệt sản hoặc can thiệp cơ thể toàn phần.

Thảo luận kết quả

Các rào cản nêu trên xuất phát từ sự chậm trễ trong nhận thức xã hội và sự dè dặt của cơ quan lập pháp trước những tác động văn hóa truyền thống. Việc thiếu vắng hành lang pháp lý đã đẩy người chuyển giới vào tình thế nguy hiểm khi phải tìm đến các cơ sở phẫu thuật chui và tự ý sử dụng nội tiết tố trôi nổi, gây tổn hại nghiêm trọng đến thể chất và giảm tuổi thọ trung bình.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột thể hiện 5 rào cản phẫu thuật chính (kinh tế 79,6%, pháp lý 51,9%, gia đình 42,7%, sức khỏe 38,5%, kỳ thị 17,0%) để làm nổi bật tác động của chính sách kinh tế và pháp luật. Bên cạnh đó, một bảng so sánh đối chiếu giữa 61 quốc gia cho phép công nhận hộ tịch không cần phẫu thuật và mô hình quản lý của các nước như Trung Quốc (yêu cầu phẫu thuật toàn phần và 3 năm thử thách) sẽ minh họa rõ nét lộ trình lập pháp mà Việt Nam nên cân nhắc. So sánh với các quốc gia phương Tây như Hoa Kỳ, nơi áp dụng Mục VII Đạo luật Dân sự năm 1964 và Mục IX Đạo luật Giáo dục năm 1972 để bảo vệ toàn diện người chuyển giới trong lao động và trường học, Việt Nam cần một đạo luật độc lập để giải quyết triệt để sự phân biệt đối xử này.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội cần khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Chuyển đổi giới tính trong lộ trình giai đoạn 2018–2022. Đạo luật này cần quy định rõ ràng quyền tự quyết bản dạng giới, điều kiện thực hiện chuyển đổi cho công dân từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, và xác lập giá trị pháp lý đầy đủ cho người chuyển giới mà không bắt buộc phải hoàn thành toàn bộ các phẫu thuật giải phẫu phức tạp.

Thứ hai, Bộ Y tế cần xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật chuyên môn về tư vấn tâm lý, liệu pháp điều trị nội tiết tố và phẫu thuật chuyển giới. Triển khai thí điểm dịch vụ y tế chuyển giới an toàn tại ít nhất 3 bệnh viện công lập tuyến trung ương tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, bảo đảm mục tiêu 100% người có nhu cầu được tiếp cận dịch vụ y tế an toàn, giảm thiểu rủi ro biến chứng nguy hiểm.

Thứ ba, Bộ Tư pháp cần ban hành thông tư hướng dẫn sửa đổi, bổ sung các thủ tục đăng ký hộ tịch theo Luật Hộ tịch năm 2014. Thiết lập quy trình cải chính hộ tịch rút gọn trong thời hạn 15 đến 30 ngày làm việc để cấp đổi Giấy khai sinh, Căn cước công dân, Hộ chiếu và văn bằng chứng chỉ cho người đã chuyển đổi giới tính, giúp họ tái hòa nhập nhanh chóng vào các giao dịch dân sự.

Thứ tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai chương trình giáo dục về bình đẳng giới và đa dạng tính dục trong hệ thống trường học phổ thông. Đặt mục tiêu giảm 50% các nội dung định kiến, sai lệch về cộng đồng chuyển giới trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong vòng 3 năm, xây dựng môi trường sống nhân văn và hòa nhập.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Cơ quan soạn thảo luật và các nhà hoạch định chính sách tại Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Y tế. Tài liệu cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn và kinh nghiệm từ 60 quốc gia giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính.

Nhóm 2: Thẩm phán, luật sư và chuyên viên tư pháp tại các cơ quan hành chính địa phương. Luận văn là cẩm nang pháp lý hữu ích giúp giải quyết thỏa đáng 100% các vướng mắc liên quan đến cải chính hộ tịch, phân chia di sản thừa kế, xác lập quyền nuôi con và quan hệ lao động của người chuyển giới.

Nhóm 3: Các tổ chức xã hội dân sự, tổ chức phi chính phủ và mạng lưới cộng đồng LGBT như iSEE, ICS, CCIHP. Công trình cung cấp các số liệu khảo sát tin cậy phục vụ hiệu quả cho các chiến dịch vận động chính sách và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho hơn 300.000 người chuyển giới.

Nhóm 4: Giảng viên, sinh viên và học viên cao học tại các cơ sở đào tạo luật học trên cả nước. Đây là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các học phần Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Luật Dân sự và Quyền con người.

Câu hỏi thường gặp

Pháp luật Việt Nam hiện nay đã chính thức cho phép công dân phẫu thuật chuyển đổi giới tính trong nước hay chưa? Tính đến nay, Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thừa nhận việc chuyển đổi giới tính trên nguyên tắc nhưng việc thực hiện vẫn phải chờ Luật Chuyển đổi giới tính được thông qua. Do đó, các cơ sở y tế trong nước chưa được cấp phép thực hiện phẫu thuật chuyển giới tự nguyện cho công dân hoàn thiện về mặt sinh học.

Người chuyển giới chưa qua phẫu thuật cơ thể có được phép đổi tên và giới tính trên Căn cước công dân không? Theo quy định pháp lý hiện hành, người chuyển giới chưa can thiệp y tế vẫn chưa được thay đổi giới tính trên giấy tờ hộ tịch. Tuy nhiên, cá nhân hoàn toàn có quyền yêu cầu đổi tên theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Dân sự năm 2015 nếu việc sử dụng tên cũ gây nhầm lẫn hoặc ảnh hưởng đến danh dự và tình cảm cá nhân.

Điểm khác biệt căn bản nhất giữa xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính là gì? Xác định lại giới tính theo Điều 36 Bộ luật Dân sự năm 2015 áp dụng cho người liên giới tính có khiếm khuyết bẩm sinh về giải phẫu hoặc nhiễm sắc thể. Ngược lại, chuyển đổi giới tính theo Điều 37 dành cho người có cơ thể sinh học hoàn chỉnh nhưng bản dạng giới tâm lý đối lập với giới tính khi sinh ra.

Người đã hoàn tất chuyển đổi giới tính có được đăng ký kết hôn với người cùng giới tính sinh học ban đầu không? Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển đổi giới tính và được cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch sang giới tính mới, cá nhân được hưởng đầy đủ quyền nhân thân của giới tính mới. Khi đó, việc kết hôn với một người mang giới tính ban đầu của họ được pháp luật công nhận là hôn nhân khác giới hợp pháp theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Việt Nam có thể áp dụng kinh nghiệm quốc tế nào để giảm bớt rào cản cho người chuyển giới? Việt Nam có thể học hỏi mô hình của hơn 60 quốc gia trên thế giới thông qua việc công nhận bản dạng giới dựa trên đánh giá tâm lý thay vì bắt buộc can thiệp phẫu thuật triệt sản nặng nề. Đồng thời, cần áp dụng quy trình cấp đổi giấy tờ một cửa liên thông để tạo thuận lợi tối đa cho công dân.

Kết luận

  • Thừa nhận và bảo đảm quyền chuyển đổi giới tính là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm hiện thực hóa Hiến pháp năm 2013 và bảo vệ nhân quyền cho hơn 300.000 công dân tại Việt Nam.
  • Khắc phục triệt để khoảng trống lập pháp và sự thiếu nhất quán giữa Điều 36 và Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015 là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp.
  • Kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp tiến bộ từ hơn 60 quốc gia trên thế giới để xây dựng mô hình công nhận bản dạng giới nhân văn, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong nước.
  • Xây dựng giải pháp đồng bộ trên 4 trụ cột chính sách: hoàn thiện đạo luật chuyên ngành, chuẩn hóa quy chuẩn y tế, cải cách thủ tục hộ tịch và nâng cao nhận thức cộng đồng.
  • Quốc hội và các bộ ngành hữu quan cần nhanh chóng đưa dự án Luật Chuyển đổi giới tính vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhằm bảo đảm mọi công dân đều được sống bình đẳng, tự do và đúng với bản dạng giới của chính mình.