Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam gắn liền với sự bùng nổ của loại hình công ty cổ phần. Kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, số lượng doanh nghiệp cổ phần hóa và thành lập mới đã duy trì mức tăng trưởng ấn tượng trên 15% mỗi năm, đóng góp hơn 40% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Tuy nhiên, đặc thù tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành đã làm nảy sinh hàng loạt mâu thuẫn nội bộ gay gắt. Tình trạng lạm dụng quyền hạn của người quản lý, thao túng thông tin và xâm phạm quyền lợi của cổ đông thiểu số diễn ra ngày càng phức tạp.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài tập trung vào việc nhận diện, mổ xẻ những bất cập trong hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động quản trị công ty cổ phần, đặc biệt là sự chuyển dịch từ Luật Doanh nghiệp 2005 sang Luật Doanh nghiệp 2014. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa các vấn đề lý luận chuẩn mực theo thông lệ quốc tế, phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định và thực tiễn xét xử, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty cổ phần.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các chuẩn mực quản trị công ty từ năm 2005 đến năm 2015, có sự đối chiếu với pháp luật của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Cộng hòa Liên bang Đức và Nhật Bản. Đề tài mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, hướng tới mục tiêu nâng cao điểm số quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam và giảm thiểu tỷ lệ hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông do tranh chấp pháp lý từ mức khoảng 10% xuống dưới 3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 2 học thuyết quản trị kinh điển: Lý thuyết Chi phí đại diện (Agency Theory) của Michael Jensen và William Meckling (1976), và Lý thuyết Các bên liên quan (Stakeholder Theory) của R. Edward Freeman (1984). Bên cạnh đó, luận văn tiếp cận 2 mô hình cấu trúc quản trị nội bộ tiêu biểu trên thế giới: mô hình hội đồng đơn tầng (Unitary Board Model) phổ biến tại các quốc gia theo truyền thống Thông luật (Common Law) như Anh và Hoa Kỳ; cùng mô hình hội đồng hai tầng (Two-tier Board Model) theo luật công ty của Đức với sự phân tách quyền lực giữa Hội đồng giám sát và Ban điều hành, trong đó người lao động nắm giữ từ 33% đến 50% số ghế trong Hội đồng giám sát.

Khung phân tích của đề tài vận dụng 4 khái niệm pháp lý trọng tâm:

  1. Quản trị công ty theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thông qua Bộ nguyên tắc quản trị công ty năm 2004 gồm 6 nhóm nguyên tắc và 32 tiêu chí chuẩn mực.
  2. Quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông thiểu số trong cơ chế biểu quyết và tiếp cận thông tin.
  3. Chế định người đại diện theo pháp luật trong môi trường đa đại diện.
  4. Cơ chế kiểm soát nội bộ và vai trò độc lập của Ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, kết hợp giữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định và kho dữ liệu thực tiễn gồm 150 bản án, quyết định kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2015. Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các tranh chấp điển hình về quyền biểu quyết, tư cách người đại diện và thủ tục bãi bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông tại các trung tâm kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Bình Thuận.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích quá trình tiến hóa thể chế; phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh luật học nhằm đối chiếu Luật Doanh nghiệp 2014 với Luật Doanh nghiệp 2005 và pháp luật của 4 quốc gia (Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản); cùng phương pháp diễn dịch - quy nạp để xây dựng các luận điểm kiến nghị. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải đánh giá toàn diện tính tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các cam kết gia nhập WTO theo Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11, đồng thời giải quyết triệt để các mâu thuẫn giữa quy phạm pháp lý và thực tiễn xét xử.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Luận văn đã làm rõ 4 phát hiện mang tính đột phá về thực trạng pháp luật quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam:

Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp 2014 đã trao quyền tự chủ mô hình quản trị khi cho phép lựa chọn cơ cấu không có Ban kiểm soát (chỉ cần tối thiểu 20% thành viên Hội đồng quản trị độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ), đồng thời hạ tỷ lệ họp Đại hội đồng cổ đông hợp lệ lần thứ nhất từ 65% xuống 51%, lần thứ hai từ 51% xuống 33%. Tỷ lệ thông qua nghị quyết thông thường giảm từ 65% xuống 51%. Sự thay đổi này giúp loại bỏ bế tắc triệu tập (như trường hợp Đại hội cổ đông Bibica năm 2013 chỉ đạt 41,79% số cổ phần có quyền biểu quyết dẫn đến hoãn họp), nhưng lại làm giảm hơn 20% quyền năng phủ quyết của nhóm cổ đông thiểu số.

Thứ hai, việc thừa nhận công ty có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật (Khoản 2 Điều 13) tạo sự linh hoạt, song đang phát sinh khoảng trống pháp lý nghiêm trọng khi hơn 60% đối tác bên ngoài không thể tra cứu thẩm quyền cụ thể của từng đại diện do thông tin này không bắt buộc công khai trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.

Thứ ba, thống kê tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trong quý 1 năm 2015 cho thấy có 85,1% tổ chức niêm yết tuân thủ thời hạn công bố nghị quyết Đại hội đồng cổ đông trong 24 giờ, trong khi 14,9% còn lại vi phạm do vướng mắc thủ tục ký duyệt biên bản.

Thứ tư, tồn tại xung đột pháp luật trực tiếp giữa Luật Doanh nghiệp 2014 (cho phép họp Đại hội đồng cổ đông thường niên trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính, tức đến 30/4) với Luật Kế toán và Quyết định 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính (buộc nộp Báo cáo tài chính trong thời hạn 90 ngày, tức trước 31/3), gây ra độ vênh thời gian 30 ngày khiến 100% doanh nghiệp họp vào tháng 4 đứng trước nguy cơ vi phạm nghĩa vụ nộp báo cáo.

Thảo luận kết quả

Thực tiễn áp dụng pháp luật bộc lộ sự thiếu đồng bộ sâu sắc giữa Luật Doanh nghiệp với Luật Trọng tài thương mại 2010 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi 2011). Điều 147 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần liên tục 06 tháng có quyền yêu cầu Trọng tài hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông, nhưng Luật Trọng tài thương mại lại không có cơ chế thụ lý loại yêu cầu này do thiếu thỏa thuận trọng tài giữa các bên liên quan.

Đường lối xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân còn thiếu nhất quán. Trong vụ tranh chấp tại Công ty Cổ phần Đay Sài Gòn (Quyết định 1875/QĐVDS-KDTM-ST), Tòa án thụ lý theo thủ tục việc dân sự; nhưng tại vụ kiện Công ty Cổ phần 565 (Quyết định 1664/2008/KDTM-ST), Tòa phúc thẩm lại xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại. Nhiều bản án đã tuyên hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông vì các lỗi vi phạm thủ tục thuần túy không gây thiệt hại (như vụ Công ty Cổ phần Vận tải hành khách Thanh Xuân bị hủy vì cử 2 thư ký không thông qua đại hội; vụ Công ty Giống cây trồng Hà Tây theo Bản án 208/2008/KDTM-PT do chậm gửi đính chính kiểm phiếu).

Các phát hiện trên có thể được hệ thống hóa qua Bảng đối chiếu tỷ lệ biểu quyết giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014, kết hợp Biểu đồ phân tích cơ cấu 14,9% vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin, từ đó chứng minh tính cấp thiết của việc chuẩn hóa các án lệ hướng dẫn áp dụng thống nhất.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện pháp luật quản trị công ty cổ phần:

  1. Điều chỉnh quy định về tỷ lệ thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bằng văn bản: Nâng tỷ lệ thông qua các vấn đề quan trọng khi lấy ý kiến bằng văn bản từ 51% lên 65% tổng số phiếu biểu quyết nhằm bảo đảm tính tương thích với hình thức biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp. Cơ quan chủ trì: Quốc hội và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Thời gian thực hiện: Lộ trình sửa đổi luật giai đoạn 2016 - 2018, hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho 100% cổ đông thiểu số.

  2. Minh bạch hóa thông tin phân quyền của người đại diện theo pháp luật: Bổ sung quy định bắt buộc doanh nghiệp phải đăng ký và công khai chi tiết phạm vi quyền hạn của từng người đại diện theo pháp luật trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì ban hành Thông tư hướng dẫn trong vòng 12 tháng, giúp giảm 80% rủi ro giao dịch vượt thẩm quyền cho các đối tác kinh doanh.

  3. Ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: Xác định rõ yêu cầu hủy bỏ nghị quyết Đại hội đồng cổ đông là việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, thiết lập tiêu chí phân biệt giữa vi phạm thủ tục nghiêm trọng làm thay đổi bản chất biểu quyết với vi phạm thủ tục đơn thuần không làm phương hại quyền lợi cổ đông, đặt mục tiêu giảm 50% số vụ hủy bỏ nghị quyết không cần thiết trước năm 2018.

  4. Đồng bộ hóa thời hạn tổ chức Đại hội đồng cổ đông và nộp báo cáo tài chính: Sửa đổi quy định của Luật Kế toán và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, cho phép thời hạn nộp Báo cáo tài chính năm của công ty cổ phần được gia hạn tương ứng với thời điểm kết thúc Đại hội đồng cổ đông thường niên (tối đa 120 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính), xóa bỏ hoàn toàn độ vênh 30 ngày hiện tại.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp (Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Cung cấp căn cứ lý luận và dữ liệu thực chứng từ 150 vụ án để phục vụ công tác rà soát, sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản dưới luật theo chuẩn mực OECD.

  2. Thẩm phán, Trọng tài viên và Luật sư tranh tụng: Tài liệu tham khảo chuyên sâu để phân loại chính xác bản chất tranh chấp nội bộ công ty (vụ án hay việc dân sự), đánh giá mức độ vi phạm thủ tục triệu tập Đại hội đồng cổ đông để đưa ra phán quyết chuẩn xác.

  3. Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc điều hành công ty cổ phần: Cẩm nang nhận diện rủi ro pháp lý trong việc thiết kế điều lệ, xây dựng quy chế quản trị nội bộ, phân định thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật và tổ chức các kỳ họp Đại hội đồng cổ đông an toàn pháp lý.

  4. Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học ngành Luật Kinh tế: Tài liệu học thuật giá trị cao về so sánh luật học, cung cấp hệ thống tài liệu tham khảo phong phú về mô hình quản trị công ty của các nước phát triển.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm đổi mới đột phá nhất của Luật Doanh nghiệp 2014 về mô hình quản trị công ty cổ phần là gì? Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty cổ phần được lựa chọn mô hình không có Ban kiểm soát (chỉ cần tối thiểu 20% thành viên Hội đồng quản trị độc lập và Ban kiểm toán nội bộ), đồng thời cho phép doanh nghiệp có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật theo quy định tại Điều 13 và Điều 134.

  2. Vì sao việc giảm tỷ lệ dự họp Đại hội đồng cổ đông xuống 51% lại tiềm ẩn rủi ro cho cổ đông nhỏ? Việc giảm tỷ lệ dự họp từ 65% xuống 51% (lần 1) và 33% (lần 2), kết hợp tỷ lệ thông qua 51% giúp đại hội dễ tiến hành nhưng khiến một nhóm cổ đông lớn nắm trên 51% cổ phần dự họp dễ dàng chi phối toàn bộ quyết định, làm suy giảm hơn 20% khả năng bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số.

  3. Tòa án xử lý như thế nào khi trình tự họp Đại hội đồng cổ đông có vi phạm thủ tục nhỏ? Thực tiễn xét xử trước đây từng hủy bỏ nhiều quyết định vì các lỗi hình thức nhỏ như cử 2 thư ký (vụ Công ty Cổ phần Thanh Xuân) hoặc gửi đính chính kiểm phiếu chậm (Bản án 208/2008/KDTM-PT). Luận văn kiến nghị Tòa án chỉ nên tuyên hủy khi vi phạm làm sai lệch kết quả biểu quyết cuối cùng.

  4. Doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật cần lưu ý gì để phòng tránh vô hiệu hợp đồng? Doanh nghiệp phải quy định cụ thể thẩm quyền, phạm vi đại diện trong Điều lệ công ty và chủ động cung cấp thông tin này cho đối tác, tránh trường hợp giao dịch bị tuyên vô hiệu do đại diện ký kết vượt quá thẩm quyền nội bộ.

  5. Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy quyết định Đại hội đồng cổ đông không? Mặc dù Điều 147 Luật Doanh nghiệp 2014 có nhắc đến Trọng tài, nhưng theo Luật Trọng tài thương mại 2010, cơ quan này không thể thụ lý do không thỏa mãn các yếu tố về thỏa thuận trọng tài và tính chất tranh chấp thương mại, do đó thẩm quyền trên thực tế vẫn thuộc về Tòa án nhân dân.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 2 mô hình quản trị công ty tiêu biểu trên thế giới và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản trị công ty cổ phần tại Việt Nam.
  • Đánh giá sâu sắc các điểm mới tiến bộ của Luật Doanh nghiệp 2014, đồng thời chỉ ra 4 khoảng trống pháp lý lớn về tỷ lệ biểu quyết, thẩm quyền đại diện, xung đột thời hạn kế toán và thẩm quyền tư pháp.
  • Đóng góp hệ thống dữ liệu thực chứng từ 150 vụ việc tranh chấp thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 2006 - 2015.
  • Đề xuất 4 giải pháp lập pháp và tư pháp đồng bộ với lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2016 đến năm 2020.
  • Doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần chủ động áp dụng các khuyến nghị của luận văn nhằm hoàn thiện thể chế quản trị doanh nghiệp minh bạch, an toàn và bền vững.