CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Việc nghiên cứu và ứng dụng phân tích tài chính ở các nước trên thế giới ñã ñược thực hiện từ rất lâu. Nếu như tại các quốc gia phát triển, nghề phân tích tài chính là một trong những nghề có truyền thống lâu ñời và ñược ưa chuộng thì ở Việt Nam, phân tích tài chính chỉ mới ñược coi là một nghề từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam hình thành cùng với sự ra ñời của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (7/2000). Tuy nhiên, các nghiên cứu về tài chính và phân tích tài chính ñã xuất hiện ở Việt Nam từ trước khi thị trường chứng khoán ra ñời.
Cùng với sự ra ñời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, ñã có nhiều ñề tài nghiên cứu ứng dụng phân tích tài chính trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các nghiên cứu về phân tích tài chính ñã ñược nhiều nhà khoa học ñề cập thông qua các công trình khoa học như các sách chuyên khảo, các bài viết trên các tạp chí, luận án, luận văn. Nhìn chung, có nhiều quan ñiểm khác nhau về tình hình tài chính. Một số tác giả ñồng nhất giữa tình hình tài chính với hoạt ñộng tài chính và tài chính doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có một số tác giả lại có sự phân ñịnh giữa tình hình tài chính doanh nghiệp với tài chính doanh nghiệp và hoạt ñộng tài chính. Tác giả Trần Quý Liên cho rằng tài chính doanh nghiệp và tình hình tài chính doanh nghiệp là cùng một nội dung, do vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng chính là phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. ðiều này ñược tác giả Trần Quý Liên thể hiện trong bài báo với tựa ñề “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm tăng cường công tác kiểm toán” (Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán, năm 2011) [13] cũng tập trung chủ yếu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp nhằm tăng cường chất lượng kiểm toán, giúp tăng ñộ tin cậy của thông tin góp phần cho nền kinh tế phát triển ổn ñịnh và bền vững. Bài báo cũng ñề cập ñến một số quan ñiểm ñể thông tin phân tích tài chính có 16 ñộ tin cậy cao như: Quan ñiểm toàn diện và hệ thống, quan ñiểm phân tích ñộng, quan ñiểm cụ thể, thực tế.
Tác giả luận án ñồng tình với những quan ñiểm ñể phân tích tài chính doanh nghiệp mà bài báo nêu, tuy nhiên, với hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp mà TS. Trần Quí Liên ñưa ra chưa ñầy ñủ. Ngoài ra, bài báo chưa làm rõ ñược mối quan hệ giữa hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp với chất lượng kiểm toán, việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính nên ñược thực hiện như thế nào ñể ñạt mục ñích là “nhằm tăng cường công tác kiểm toán”. ðó là những vấn ñề còn bỏ ngỏ mà tác giả luận án rất muốn có cơ hội ñược giải ñáp ñể phục vụ cho ñề tài nghiên cứu của mình.
Với quan ñiểm ñồng nhất giữa tình hình tài chính với hoạt ñộng tài chính và tài chính doanh nghiệp, có một số tác giả ñiển hình như các tác giả Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ. Các tác giả này quan niệm rằng tài chính doanh nghiệp cũng chính là tình hình tài chính, phân tích tài chính doanh nghiệp cũng là phân tích tình hình tài chính. Quan ñiểm này thể hiện trong cuốn “Giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp” (2008) [4]. Do vậy, những nội dung của phân tích tình hình tài chính theo quan ñiểm của các tác giả này bao gồm: (1) Phân tích chính sách tài chính, (2) Phân tích tình hình sử dụng vốn, (3) Phân tích tiềm lực tài chính, (4) Phân tích khả năng sinh lời, tăng trưởng và ñịnh giá doanh nghiệp, (5) ðầu tư và chiến lược tài chính.
Có cùng quan ñiểm với các tác giả Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ là tác giả Ngô Kim Phượng và cộng sự trong tác phẩm “Phân tích tài chính doanh nghiệp” (2010). Nhóm tác giả này cho rằng phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp bao gồm các công việc như phân tích nhu cầu vốn, cơ cấu nguồn vốn huy ñộng, hiệu quả sử dụng vốn, bảo toàn và phát triển vốn… Phân tích tài chính doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc ñánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc ñộ khác nhau [18]. Qua ñây, tác giả luận án nhận thấy phân tích tình hình tài chính theo quan ñiểm này có nội dung chủ yếu xoay quanh hoạt ñộng tài chính doanh nghiệp. Một số tác giả nước ngoài theo quan ñiểm ñồng nhất giữa tình hình tài chính với tài chính doanh nghiệp hay hoạt ñộng tài chính doanh nghiệp như nhóm tác giả Cheng F.
Nhóm tác giả bài báo này tổng quan những công trình khoa học nghiên cứu liên quan ñến phân tích tài chính ñã công bố trước ñó, ñưa ra những bình luận về ưu, nhược ñiểm ñối với những công trình tiêu biểu và nhóm tác giả Cheng F. Junkus nêu lên một số ñiểm mới cho công trình của mình. Nhóm tác giả này khẳng ñịnh phân tích tài chính và lập kế hoạch kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ và tác ñộng lẫn nhau, chúng không thể tách rời. Phân tích tài chính theo quan ñiểm của nhóm tác giả này có một số nội dung như phân tích hiệu quả sử dụng vốn, ñầu tư và chiến lược tài chính vấn ñề về ñòn bẩy hoạt ñộng – phân tích lợi nhuận mục tiêu, ñòn bẩy tài chính, kế hoạch phát triển tài chính.
Năm 2008, nhóm tác giả Yiming Hu, Thomas W.Lin, Siqi Li với bài báo có tựa ñề “An examination of factors affecting Chinese financial analyst’s information comprehension, analyzing ability, and job quality” [33] ñã ñề cập ñến những nhân tố ảnh hưởng ñến sự hiểu biết thông tin, khả năng phân tích và chất lượng công việc của nhà phân tích. Nhóm tác giả còn thể hiện tầm quan trọng của nghề phân tích tài chính. Ngoài ra, các tác giả này ñưa ra một số mô hình lý thuyết vận dụng vào phân tích tài chính như mô hình ñịnh giá chứng khoán, mô hình chiết khấu dòng tiền, mô hình chiết khấu cổ tức, mô hình giá trị kinh tế gia tăng (EVA) và mô hình ñịnh giá tài sản vốn (CAPM). Helfert với tác phẩm “Techniques of financial analysis – a modern approach – ninth edition” (1997) [28] ñã thể hiện rõ nét phân tích tài chính là phân tích tình hình tài chính.
Tác giả này ñề cập ñến hệ thống tài chính, quản lý quỹ tác nghiệp, ñánh giá việc thực hiện kinh doanh, phân tích các quyết ñịnh ñầu tư, chi phí, quyết ñịnh kinh doanh, lựa chọn cấp kinh phí, ñánh giá kết quả kinh doanh. Tác phẩm có 9 chương, nội dung tập trung chủ yếu như: (1) Hệ thống báo cáo tài chính, (2) Quản lý các quỹ hoạt ñộng, (3) ðòn bẩy hoạt ñộng, (4) Phân tích quyết ñịnh ñầu tư, (5) Chi phí vốn và quyết ñịnh kinh doanh, (6) Phân tích các lựa chọn tài chính, (7) Giá trị kinh doanh. Khác với quan ñiểm ñồng nhất giữa tình hình tài chính với tài chính doanh nghiệp và hoạt ñộng tài chính, các tác giả Nguyễn Thu Hằng và Nguyễn Năng Phúc 18 trong bài báo với tựa ñề “ðánh giá khái quát tình hình tài chính trong các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (Tạp chí Kinh tế & Phát triển, năm 2011) ñã trình bày một nội dung nhỏ của phân tích tình hình tài chính trong lĩnh vực Ngân hàng thương mại cổ phần [8]. Trong bài báo, các tác giả ñã kiến nghị hệ thống chỉ tiêu ñánh giá khái quát tình hình tài chính trong các ngân hàng thương mại cổ phần.
Tác giả luận án nhận thấy bài báo ñã cung cấp những thông tin hữu ích về ñánh giá khái quát tình hình tài chính trong lĩnh vực ngân hàng thương mại cổ phần. ðồng thời, ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính nên cũng có những ñiểm tương ñồng với ngành kinh doanh chứng khoán. ðây là ñiều kiện thuận lợi ñể tác giả luận án tham khảo và vận dụng vào ñề tài nghiên cứu của mình. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang thể hiện quan ñiểm trên trong luận án với ñề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang (năm 2002) [21].
Từ những ñặc ñiểm ñặc thù của doanh nghiệp xây dựng, tác giả Nguyễn Ngọc Quang ñã trình bày hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp xây dựng. Luận án của tác giả Nguyễn Ngọc Quang ñã vận dụng cơ sở lý luận chung của phân tích tài chính vào một ngành kinh doanh cụ thể là ngành xây dựng với những ñặc thù riêng có. Quan ñiểm trên cũng ñược tác giả Trần Thị Minh Hương thể hiện trong luận án với ñề tài “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam” [10] thể hiện sự khác nhau giữa tình tình tài chính với tài chính doanh nghiệp hay hoạt ñộng tài chính. Luận án của tác giả Minh Hương nghiên cứu về lĩnh vực kinh doanh dịch vụ - cụ thể là dịch vụ hàng không - nên ñã cung cấp một số kiến thức bổ ích phục vụ ñề tài nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ tài chính cho tác giả.
ðây là những ñiểm nên ñược tác giả luận án tham khảo. Bên cạnh các bài báo khoa học, các luận án tiến sĩ còn có các giáo trình ñề cập ñến quan ñiểm phân ñịnh giữa tình hình tài chính với tài chính doanh nghiệp và hoạt ñộng tài chính. Nguyễn Văn Công cho rằng: “Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời ñiểm. Tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay bi ñát thể 19 hiện rõ nét chất lượng của toàn bộ hoạt ñộng mà doanh nghiệp ñã tiến hành” [5, tr.
Tác giả ñã làm rõ ñiểm khác nhau giữa hoạt ñộng tài chính và tình hình tài chính, theo ñó, hoạt ñộng tài chính là những hoạt ñộng liên quan ñến việc thay ñổi quy mô và kết cấu vốn chủ sở hữu và vốn vay, còn tình hình tài chính thể hiện tình trạng hay thực trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời ñiểm và nó phản ánh kết quả của tất cả các hoạt ñộng mà doanh nghiệp tiến hành.